SKKN Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách

doc 15 trang thuyhan 28/09/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_phong_chong_beo_phi_cho_tre_o_lop_minh.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách

  1. PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Bác Hồ đã nói: "Trẻ em như búp trên cành", ý nói giai đoạn quan trọng nhất của cuộc đời cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt nhất. Từ nhận thức " Sức khỏe của trẻ em hôm nay là sự phồn vinh của đất nước ngày mai", sức khỏe ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí tuệ, là yếu tố quyết định đến sự phát triển của trẻ sau này. Sức khỏe là một yếu tố không thể thiếu của con người, để thế hệ trẻ được khỏa mạnh, thông minh sáng tạo, có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc nuôi dạy trẻ em là yêu cầu rất lớn. Cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi người chúng ta ngày nay đều có cuộc sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em ngày nay được sự chăm sóc đặc biệt của gia đình và toàn xã hội, nhiều người cho rằng có điều kiện cho con ăn nhiều là tốt, con mình càng mập mạp, càng bụ bẫm thì càng tốt hơn, nên đến khi cha mẹ phát hiện con mình thừa cân quá nhiều thì đã muộn. Trong lúc mức độ báo động và cần thiết sự quan tâm của xã hội đối với trẻ béo phì hiện nay được ưu tiên hàng đầu. Nếu một đứa trẻ sức khỏe tốt là cơ sở cho sự phát triển về nhân cách. Do đó, nhiệm vụ trọng tâm của trường mầm non là phải kết hợp hài hòa giữa giáo dục nâng cao sức khỏe với phát triển các mặt vận động, tâm lý của trẻ. Chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đảm bảo các điều kiện về chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt hàng ngày như: ăn, ngủ, vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường thoáng mát, an toàn đối với trẻ, để phòng chống các loại vi khuẩn và khám bệnh định kỳ cho trẻ, gắn với giáo dục tâm lý, tình cảm, bồi dưỡng năng lực nhận biết về thế giới xung quanh, về các biện pháp vận động thể lực cho trẻ. Sức khỏe của trẻ em phụ thụôc vào rất nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền, môi trường ... trong đó, chế độ dinh dưỡng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của trẻ em; thiếu ăn, ăn không đủ chất, ăn không hợp lý dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng và ngược lại nếu cho trẻ ăn quá mức cần thiết, ăn quá nhiều thức ăn, tỷ lệ mỡ và thức ăn béo trong khẩu phần ăn quá cao, chế độ ăn ít thay đổi, hoạt động thể lực ít cũng dẫn đến trẻ thừa cân, béo phì ... đều gây tác hại cho sức khỏe của trẻ sau này. Béo phì thường đi kèm với tỷ lệ bệnh tật như: bệnh tăng huyết áp, tiểu đường, viên xương khớp, trẻ chậm chạp kém thông minh. Ảnh hưởng đến sự linh hoạt sáng tạo của trẻ. Nhất là trẻ ở lứa tuổi mầm non đang phát triển rất nhanh về thể lực và trí tuệ. Nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ trẻ sẽ phát triển tốt, trẻ sẽ dễ dàng lĩnh hội những kiến thức trong quá trình giáo dục đồng thời hạn chế được ốm đau, bệnh tật. Do đó nâng cao chất lượng dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đến sức khỏe của trẻ. Dựa vào tình hình thực tế của lớp, trong năm học 2019-2020 thì tỉ lệ trẻ béo phì của lớp còn rất cao. Là một giáo viên đứng lớp bán trú của trường, tôi luôn suy nghĩ trăn trở làm thế nào để phòng chống béo phì cho trẻ và giảm tỉ lệ trẻ béo phì xuống mức thấp 1
  2. nhất theo từng tháng, từng quý. Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài" Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách" 2. Cơ sở lí luận - Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với trẻ em, một chế độ dinh dưỡng tốt, phù hợp sẽ tạo nên cho trẻ một sức khỏe tốt về sau. Vì vậy nếu trẻ bị béo phì thì hậu quả để lại sau này rất lớn.Trẻ sẽ bị thiệt thòi về khả năng phát triển trí não, thể lực, tâm lí, ảnh hưởng đến sức khỏe và cả kinh tế của gia đình làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội. - Trẻ em béo phì thường xuyên có cảm giác kém cỏi do chúng hạn chế về thể lực và bị cách li với các bạn khác, ảnh hưởng tới sinh hoạt và học tập, trẻ béo phì thường được người khác nựng nịu, dòm ngó, trẻ tự cho mình là “ xấu xí” và có mặc cảm, có tác hại cho trẻ về nhiều mặt. - Các trẻ béo phì luôn luôn yếu hơn các trẻ bình thường như: đi đứng thường chậm chạp hơn, nặng nề hơn các trẻ khác. Điều này thật dễ hiểu, có thể lý giải một cách thô sơ là các bắp mỡ chèn ép các cơ bắp, cản trở sự hoạt động của các cơ bắp. Đối với trẻ em béo phì đều trở thành người lớn béo phì, nên đều có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, bệnh huyết áp, bệnh viêm khớp, bệnh tiểu đường . - Để làm tốt công tác giảm tỉ lệ trẻ béo phì và đang có nguy cơ béo phì ở lớp mình đạt kết quả cao, là người trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ hàng ngày, tôi xin mạnh dạn nêu lên “ Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách" 3. Cơ sở thực tiễn - Như chúng ta đã biết sức khỏe là vốn quý của con người. Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, đảm bảo đủ về lượng và chất thì cơ thể mới phát triển một cách toàn diện được, dinh dưỡng là nhu cầu sức khỏe của mỗi người, trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực, trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự sống để làm việc cống hiến cho xã hội. Nếu trẻ không chăm sóc chu đáo về bữa ăn, cũng như nhu cầu dinh dưỡng không tốt sẽ chậm lớn, còi cọc, chậm phát triển. Còn những trẻ do ăn uống quá mức, được tích luỹ lại dần dần, mỗi ngày một tăng trong lớp mỡ dưới da và ngày càng làm cho lớp mỡ đó phát triển lên gây nên chứng béo phì. Ngay từ đầu năm học tôi tiến hành cân đo cho trẻ và kết quả như sau: Tổng số trẻ trong lớp: 25 cháu Tổng số trẻ được cân đo: 25 cháu ĐẦU NĂM TT NỘI DUNG Số lượng Tỉ lệ % ( cháu) 1 Trẻ phát triển bình thường 17 cháu 68% 2 Trẻ SDD nhẹ cân 2 cháu 8% 3 Trẻ SDD thấp còi 1 cháu 4% 2
  3. 4 Trẻ béo phì 5 cháu 20% 4. Mục đích nghiên cứu - Với trách nhiệm là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và thực trạng trẻ béo phì của lớp mà mình phụ trách, qua đề tài này tôi mong muốn: + Tìm ra một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ và giảm tỉ lệ trẻ béo phì + Giúp bản thân tôi có kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt hơn, hiểu sâu hơn về ý nghĩa trẻ bị béo phì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Trên cơ sở đó biết cách xây dựng kế hoạch, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, tự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp cân đo theo dõi biểu đồ - Phương pháp quan sát sư phạm - Phương pháp điều tra - Phương pháp thực hành - Phương pháp tuyên truyền - Phương pháp giảng dạy - Phương pháp tích lũy kinh nghiệm 6. Đối tượng nghiên cứu - Đi sâu nghiên cứu để tìm ra một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách. 7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A - Kế hoạch nghiên cứu: + Tháng 9: Chọn đề tài nghiên cứu + Tháng 10,11: Làm đề cương sáng kiến kinh nghiệm “ Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách" + Tháng 12: Nộp đề cương cho hội đồng khoa học nhà trường + Tháng 1,5,6: Tìm biện pháp để phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách + Tháng 7: Hoàn thiện sáng kiến kinh nghiệm và nộp cho hội đồng khoa học nhà trường xét duyệt. 3
  4. PHẦN II. NỘI DUNG I. Thực trạng vấn đề 1. Thuận lợi: - Cơ sở vật chất đảm bảo phục vụ nhu cầu bán trú tại trường - Đa số trẻ đang học bán trú tại trường, khẩu phần ăn của trẻ được tính hợp lí theo đặc điểm, nhu cầu của lứa tuổi. - Trẻ được ăn hai bữa, 1 bữa chính, 1 bữa phụ và được uống sữa Nutifood vào buổi sáng. - Lớp có góc tuyên truyền cho phụ huynh về kiến thức nuôi dạy con theo khoa học, góc tuyên truyền về 4 nhóm thực phẩm cho trẻ học và trải nghiệm. - Có sổ theo dõi trẻ hàng tháng, hàng quý, khám sức khỏe cho trẻ theo định kì 2 lần/năm - Phụ huynh quan tâm đến sức khỏe, chế độ ăn của trẻ. Thường xuyên phối hợp với giáo viên trong công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ. - Đa số trẻ năng động, tích cực tham gia các hoạt động tập luyện thể lực vào giờ thể dục, vào buổi sáng, giờ học và thông qua các trò chơi phát triển vận động. - Bản thân tôi luôn có tinh thần tự giác học hỏi để nâng cao tay nghề, chấp hành tốt các nội quy, quy chế của nhà trường đề ra, luôn yêu nghề và luôn coi các cháu như con em ruột thịt của mình và nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng. 2. Khó khăn - Một số trẻ có thói quen ăn uống ở nhà như: ăn đồ ăn chiên rán, bánh kẹo, nước ngọt, hay ăn quà vặt. - Một số trẻ tới giờ ăn, ăn nhiều quá suất ăn của mình. - Một số phụ huynh có điều kiện kinh tế dư dả, cưng chiều con cái quá mức trong việc ăn uống. Bà mẹ nào cũng mong cho con trẻ “Hay ăn, chóng lớn” và khi thấy trẻ ăn nhiều thì rất mừng nên cho trẻ mang nhiều đồ ăn tới trường như bánh ngọt, nước ngọt, sôcôla và cho con ăn uống quá mức một cách tự do, nhất là ăn uống quá nhiều các loại bánh ngọt nên trẻ bị béo phì. Do vậy mà ngay từ đầu năm học tỉ lệ trẻ béo phì đến trường còn khá cao. - Qua kết quả cân đo đầu năm học 2019 - 2020 thì tôi thấy rằng tỉ lệ trẻ béo phì ở lớp mình đang còn ở mức độ cao. Do đó cần phải có biện pháp thiết thực tác động đến các bậc phụ huynh, hiểu được sức khỏe bình thường là rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Từ đó mà tôi áp dụng một số biện pháp sau: 4
  5. II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN * Biện pháp 1: Cân đo theo dõi sức khỏe cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng - Ghi đầy đủ thông tin của trẻ vào sổ theo dõi: Tên, tuổi, ngày tháng năm sinh, tên bố mẹ, tình trạng sức khỏe khi sinh ra. - Sau khi kết quả cân đo từ nhà trường, tôi tiến hành chấm biểu đồ cho trẻ về cân nặng và chiều cao, rồi tính biểu đồ IBM cho trẻ. - Đối với trẻ béo phì, tôi cân đo hàng tháng, đối với trẻ bình thường tôi cân đo hàng quý để theo dõi sự tăng trưởng của trẻ. - Khám sức khỏe cho trẻ 2 lần/năm - Theo dõi thể lực trẻ trên biểu đồ hằng quý, hằng tháng để biết tiến triển sức khỏe của trẻ trao đổi kịp thời với phụ huynh và có hướng điều chỉnh thực đơn, cách chăm sóc trẻ. * Biện pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị béo phì - Sau khi nắm số liệu trẻ béo phì, tôi đã tìm ra một số nguyên nhân sau: + Trẻ béo phì là do ăn uống quá mức, được tích luỹ lại dần dần, mỗi ngày một tăng trong lớp mỡ dưới da và ngày càng làm cho lớp mỡ đó phát triển lên gây nên chứng mập phì. + Trẻ béo phì thường ăn nhiều lần trong ngày, thích ăn đồ ngọt, đồ ăn nhiều dầu mỡ như: chiên rán, thịt rim . + Trẻ béo phì chưa cân đối về khẩu phần ăn, sai lầm về ăn uống của cha mẹ đối với trẻ. + Một số trẻ béo phì lười vận động, chậm chạp, ít tham gia các hoạt động cùng các bạn. - Biết được những nguyên nhân trên tôi tích cực trao đổi trực tiếp với phụ huynh qua các buổi đưa đón trẻ về tình hình sức khỏe và về chế độ sinh hoạt, chế độ ăn của trẻ ở gia đình. Từ đó tôi đề ra biện pháp chăm sóc cụ thể cho từng trẻ Ví dụ: + Nhóm trẻ thừa cân: Tôi giáo dục trẻ ăn hạn chế các món ăn nhiều dầu mỡ, bánh kẹo, thịt rim tăng cường ăn nhiều rau xanh, hoa quả. Trao đổi với nhân viên cấp dưỡng về phần ăn cho trẻ, cách chế biến thức ăn hấp dẫn hợp khẩu vị với trẻ. Và khi ăn động viên, khuyến khích trẻ ăn vừa đủ suất ăn của mình. + Nhóm trẻ béo phì do chưa cân đối khẩu phần ăn sai lầm về ăn uống: Trao đổi với phụ huynh về khẩu phần ăn hàng ngày ở trường của trẻ để phụ huynh biết được con mình thiếu chất dinh dưỡng gì để bổ sung và thừa chất dinh dưỡng gì để hạn chế ăn cho trẻ khi về nhà. Đối với trẻ khẩu phần ăn cần phải đầy đủ 4 nhóm thực phẩm sau, tỉ lệ Gluxit chiếm 60%, tỉ lệ Lipit chiếm25%, tỉ lệ Protit chiếm 15%, tỉ lệ Vitamin chiếm 15%. Trong thời gian ở trường mầm non phải 5
  6. đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho trẻ khoảng 735-882 Kcal/trẻ/ngày. * Biện pháp 3: Tham mưu với ban giám hiệu nhà trường về cách chăm sóc trẻ béo phì và trẻ có nguy cơ béo phì. Sau khi nắm tình hình số trẻ béo phì và nguy cơ béo phì đầu tháng 9, tôi tổng hợp số liệu và báo cáo với ban giám hiệu nhà trường để xin ý kiến chỉ đạo, trước tiên tôi tham mưu các nội dung như sau: - Trong buổi họp hội đồng tháng 9, tôi đã tham mưu với đồng chí Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng thông báo lại tình hình và kết quả cân đo ngày 10/9/2019 của lớp về số liệu trẻ béo phì và có nguy cơ béo phì, tôi tiến hành đề xuất và trình một số biện pháp thực hiện đối với trẻ bị béo phì và có nguy cơ béo phì để ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch tạo điều kiện cho những trẻ đó được ăn theo thực đơn riêng. - Tham mưu với nhà trường thường xuyên tổ chức cho trẻ đi tham quan, dã ngoại nhằm phát triển cho trẻ về thế giới xung quanh, tăng cường rèn luyện thể lực cho trẻ. Khi đi tham quan, giáo viên nên quan tâm đến những trẻ béo phì và nguy cơ béo phì, thường xuyên cho trẻ phối hợp và thực hiện các động tác vận động để làm giảm lượng mỡ thừa trong cơ thể trẻ béo phì. - Tham mưu với nhà trường thường xuyên tổ chức các hội thi của trẻ, các buổi hội thảo cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và phụ huynh trong trường về chuyên đề “Sức khỏe và giáo dục đối với trẻ mầm non” đặc biệt là cách chăm sóc cho những trẻ béo phì và những trẻ đang có nguy cơ béo phì. - Tham mưu với ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên các lớp xây dựng góc tuyên truyền với phụ huynh về sức khỏe cho trẻ tại các nhóm lớp. - Tham mưu với ban giám hiệu nhà trường thường xuyên mời tuyên truyền viên có chuyên môn về công tác giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ mầm non, để tuyên truyền, tư vấn và trao đổi về cách chăm sóc sức khỏe cho các cháu trong độ mầm non, đặc biệt là những trẻ, nhân viên và phụ huynh toàn trường được dự. - Ngoài ra tôi còn tham mưu với ban giám hiệu nhà trường thường xuyên viết các bài tuyên truyền về cách chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non. Đặc biệt là trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì và có nguy cơ béo phì thông qua việc nhờ loa đài phát thanh của xã và các thôn đội trong toàn xã Với các hình thức tham mưu để làm tốt công tác tuyên truyền trên, tôi đã thu được kết quả đáng kể, cụ thể: Ban giám hiệu nhà trường và toàn thể giáo viên, nhân viên và phụ huynh trong trường đều rất ủng hộ và phối hợp thực hiện tốt trong việc chăm sóc những trẻ thuộc diện béo phì và có nguy cơ béo phì của nhà trường. * Biện pháp 4: Làm tốt góc tuyên truyền với phụ huynh - Ở lớp xây dựng góc tuyên truyền dành cho phụ huynh như: Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, nuôi con theo khoa học, cho trẻ ăn dủ 4 nhóm thực phẩm trong một khẩu phần ăn, các bệnh mà trẻ thường mắc phải.... 6
  7. - Nhắc nhở phụ huynh cho cháu ăn, ngủ đúng giờ và không mang bánh kẹo vào lớp. - Lên kế hoạch tuyên truyền với phụ huynh về nội dung chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại nhóm lớp khi họp đầu năm như: Nội dung đầu tiên tôi tuyên truyền với cha mẹ trẻ là dinh dưỡng. Phân tích cho cha mẹ trẻ biết dinh dưỡng là nhu cầu sống hằng ngày của con người, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm việc, trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực tốt và đây là hạt giống của đất nước để từ đó cha mẹ trẻ quan tâm đến việc phòng chống suy béo phì cho trẻ. Tôi chọn các nội dung cho từng chủ đề để tuyên truyền vận động phụ huynh: chăm sóc sức khỏe cho trẻ, lịch sinh hoạt của trẻ trong một ngày, lịch tiêm chủng, vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong ăn uống, mối liên quan giữa thực phẩm và bệnh tật, biết giá trị dinh dưỡng của các loại thực phẩm thông thường sẵn có ở địa phương, các nhóm thức ăn, cách chọn mua thực phẩm, những điều cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, tháp dinh dưỡng, nuôi con theo khoa học, nguyên tắc cho con uống sữa hằng ngày - Thông báo cho phụ huynh biết về cân nặng và chiều cao qua bảng tuyên truyền ngoài lớp để phụ huynh nắm được và có biện pháp chăm sóc cho trẻ được tốt hơn - Trao đổi trực tiếp với phụ huynh về cháu béo phì và có nguy cơ béo phì qua các buổi đưa đón trẻ, qua các buổi họp phụ huynh để phụ huynh có biện pháp chăm sóc khi ở nhà. Khi trẻ đau ốm không đến lớp được thì tôi trực tiếp đến tận gia đình để hỏi thăm sức khỏe trẻ và trao đổi với phụ huynh về chế độ ăn của trẻ khi bị ốm. - Tham mưu y tế xã khám sức khỏe định kỳ cho trẻ 2 lần/năm. Trao đổi với một số cha mẹ trẻ khi phát hiện trẻ có dấu hiệu một số bệnh do y tế cung cấp thông tin để điều trị kịp thời. * Biện pháp 5: Kết hợp với phụ huynh thay đổi chế độ ăn cho trẻ - Trao đổi với phụ huynh trước tiên, khi thay đổi dần chế độ ăn cho trẻ, chúng ta không phải bắt trẻ nhịn ăn hoặc ăn quá ít làm cho trẻ mỏi mệt, luôn luôn buồn ngủ. Học hành kém, sức đề kháng của cơ thể trẻ sẽ giảm sút và khiến trẻ rất dễ mắc bệnh. Do vậy để giúp cho cơ thể trẻ đảm bảo sự lớn lên bình thường và phát triển về mọi mặt, tôi đã nghiên cứu kỹ cách thay đổi chế độ ăn cho trẻ và lưu ý phối hợp tốt với phụ huynh cần quan tâm đến vấn đề sau: + Trong các bữa ăn hàng ngày của trẻ ở trường và ở nhà, tôi đã xây dựng thực đơn cho trẻ hạn chế các chất béo như: mỡ, bơ và thay mỡ động vật bằng dầu thực vật, tuy nhiên nhắc nhở phụ huynh khi dùng dầu thực vật cũng không nên dùng nhiều quá. + Khi chế biến thức ăn nên hạn chế các món ăn chiên xào, mà thường xuyên chế biến các món ăn bằng cách luộc và hấp để cho trẻ ăn. + Tăng cường cho trẻ ăn trái cây tươi, nhưng ít ngọt như: mận, củ sắn, thanh long, bưởi, táo ta, đu đủ, cam, ổi 7
  8. + Hạn chế tối đa các chất ngọt như: kẹo, bánh ngọt, sôcôla + Hạn chế cho trẻ ăn quà vặt, nếu giữa các bữa ăn trẻ thấy đói thì chỉ có thể cho trẻ ăn trái cây, không cho trẻ ăn các loại bánh kẹo, sữa hoặc các thức ăn có nhiều chất bột đường. - Ngoài việc kết hợp với phụ huynh thay đổi chế độ ăn cho trẻ, tôi thường xuyên gần gũi và động viên những trẻ đó trong các bữa ăn tại trường. Trong khi gần gũi trẻ tôi vừa động viên trẻ ăn vừa phân tích cho trẻ “Muốn có một cơ thể khỏe mạnh, nhanh nhẹn thì các con phải ăn nhiều rau xanh và các loại trái cây và giảm các thức ăn có nhiều chất đạm, đường, chất béo ”. Thời gian đầu các trẻ đó chưa quen với thực đơn riêng, nhưng sau nhiều lần cùng phối hợp với phụ huynh động viên trẻ ăn như vậy, sau một thời gian ngắn thì đa số các trẻ đó đã quen với chế độ ăn của riêng của mình và đã giảm cân, cơ thể phát triển một cách cân đối và nhanh nhẹn hơn rất nhiều so với đầu năm học. Với việc phối kết hợp với phụ huynh dần thay đổi chế độ ăn hàng ngày cho trẻ, tôi đã thu được những kết quả đáng kể. * Biện pháp 6: Về công tác giảng dạy:“Tăng cường các hoạt động thể lực hàng ngày để tiêu hao năng lượng thừa cho trẻ” - Với thực tế ở lớp tôi như vậy, ngoài biện pháp tôi cùng kết hợp với phụ huynh thay đổi dần chế độ ăn hàng ngày cho trẻ ra, thì việc tăng cường cho trẻ hoạt động thể lực hàng ngày để tiêu hao năng lượng thừa cho trẻ cũng vô cùng quan trọng. - Hàng ngày cho trẻ thực hiện đều các bài tập thể dục, đối với những trẻ béo phì và nguy cơ béo phì tôi cho trẻ tập thể dục ít nhất từ 2 lần mỗi ngày. Lúc tập thể dục sáng cùng cả lớp xong cô giáo sẽ tạo điều kiện cho riêng những trẻ béo phì và có nguy cơ béo phì tập thêm một số bài tập như: cho trẻ tập lắc vòng, leo thang, chạy chậm với các dụng cụ sẵn có được trang bị tại sân trường. Chính những hoạt động này sẽ gúp trẻ tiêu hao bớt mỡ thừa, làm cho cơ thể săn chắc, gọn gang và khỏe mạnh hơn. Ngoài việc thường xuyên cho trẻ tập thể dục hàng ngày và tập luyện thêm một số bài tập dành cho trẻ béo phì, tôi khuyến khích các cháu đó tham gia vào các hoạt động lao động tại trường, lớp như: Tham gia hoạt động lao động trực nhật, xếp ghế, lau chùi bàn ghế, giá đồ dùng đồ chơi, phơi khăn cùng cô giáo. Khi được tham gia lao động cùng cô và các bạn trẻ cũng rất thích thú và hăng say làm việc đồng thời cũng làm cho cơ thể trẻ tiêu hao bớt năng lượng và các cơ của trẻ cũng săn chắc gọn gàng hơn. - Ở lớp tôi thường xuyên lồng ghép nội dung giáo dục cho trẻ về chế độ dinh dưỡng ở mọi lúc mọi nơi thông qua tất cả các hoạt động hàng ngày ở lớp của mình. Thông qua các hình thức lồng ghép và giáo dục trên nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức cơ bản và sơ đẳng nhất để trẻ có ý thức tự phòng chống béo phì thông qua các tình huống, các hoạt động, các câu chuyện, bài hát, bài thơ - Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng trên tiết học: tôi xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ phù hợp với độ tuổi, phù hợp với chủ đề. 8
  9. * Ví dụ: Chủ đề bản thân: giáo dục trẻ biết rèn luyện thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong ăn uống, giới thiệu các món ăn cung cấp dinh dưỡng. Tùy chủ đề mà tôi chọn đề tài để dạy trẻ: biết tên các loại thực phẩm, biết được các nhóm thực phẩm giàu chất bột đường, nhóm thực phẩm giàu chất béo, nhóm thực phẩm giàu chất đạm, nhóm thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng Qua tiết học trẻ biết được công dụng của các loại thực phẩm, cách chế biến các loại thực phẩm thành các món ăn đủ dinh dưỡng cho sức khỏe con người hằng ngày. Không nên ăn quá nhiều một nhóm thực phẩm sẽ gây ra các bệnh thường gặp cho trẻ béo phì. Nội dung các bài hát, bài thơ, câu đố, chuyện kể cung cấp thêm kiến thức về dinh dưỡng, biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho bản thân. - Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng trong giờ hoạt động ngoài trời: cho trẻ chơi các trò chơi nhằm rèn luyện tinh thần thể dục thể thao , cho trẻ quan sát, trò chuyện về những cây, con vật cung cấp thực phẩm, cung cấp dinh dưỡng cho bữa ăn. - Lồng ghép giáo dục dinh dưỡng trong giờ hoạt động góc: tôi đã tham mưu với nhà trường mua sắm thêm đồ chơi ở góc dinh dưỡng và cho các góc khác, bên cạnh đó tôi làm thêm nhiều đồ chơi cho từng chủ đề, vận động phụ huynh ủng hộ nguyên vật liệu để làm đồ chơi cho các góc. + Góc học tập: Cho trẻ xem tranh ảnh về các bệnh mà trẻ béo phì thường gặp phải , chọn ra thực phẩm theo yêu cầu, phân loại các nhóm thực phẩm qua tranh lô tô dinh dưỡng, giải câu đố về các loại thực phẩm( rau, củ, quả...) + Góc nghệ thuật: làm bộ sưu tập, làm sách, vẽ, tô màu tranh các loại thực phẩm, nặn các loại thực phẩm, hát, đóng kịch những bài hát như: Bắp cải xanh, Hoa kết trái, Củ cải trắng, Sự tích cây khoai lang.... + Góc xây dựng: xây dựng vườn cây ăn quả, ăn lá, ao cá, trang trại chăn nuôi + Góc phân vai: nấu các món ăn, bé tập làm nội trợ, đi siêu thị, quầy giải khát, quầy bán hoa quả, các loại rau, quầy các món ăn được chế biến từ các loại thực phẩm qua đó giáo dục trẻ biết mối liên quan giữa các loại thực phẩm đối với sức khỏe con người, giúp trẻ biết ăn đủ 4 nhóm thực phẩm trong mỗi bữa ăn, không kén ăn, không kiên khem, biết ăn hết suất, ăn uống hợp vệ sinh, không ăn quá nhiều, hạn chế ăn các món ăn nhiều dầu mỡ Với biện pháp thực hiện như trên, tôi đã rất tự tin và phấn khởi vì đa số các cháu thuộc diện béo phì và nguy cơ béo phì của lớp đều đã nhiệt tình tham gia vào các hoạt động lao động giúp cô giáo tại lớp để phát triển thể lực hàng ngày do cô giáo gợi ý và tổ chức. Hầu hết các cháu đều nhanh nhẹn hoạt bát và có sự chuyển biến về cân nặng rất tích cực. * Biện pháp 7: Giáo dục sức khỏe cho trẻ - Hằng ngày tôi đều theo dõi và giáo dục sức khỏe cho trẻ như: dạy trẻ giữ gìn vệ sinh thân thể, áo quần sạch sẽ, biết chải tóc gọn gàng, biết dùng khăn, bát, ca uống nước riêng, biết rửa tay khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh, trước và sau khi ăn Đọc cho trẻ nghe những bài thơ, câu chuyện giáo dục bảo vệ sức khỏe. 9
  10. PHẦN III. KẾT LUẬN I. Kết quả đạt được - Tôi đã được Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp đã đề ra trong năm học như: thời gian nghiên cứu các tư liệu, tài liệu có liên quan đến đề tài. - Đã được phụ huynh phối kết hợp rất tốt trong việc cùng tham gia chăm sóc và giáo dục trẻ, xây dựng chế độ ăn và rèn luyện chế độ ăn riêng, chế độ luyện tập hàng ngày ở trường cũng như ở trong gia đình. Mục đích là để làm giảm cân cho những trẻ thừa cân béo phì và có nguy cơ béo phì, đem lại sự nhanh nhẹn hoạt bát, giúp các cháu có một cơ thể khỏe mạnh, săn chắc và linh hoạt hơn khi tham gia các hoạt động học tập và vui chơi tại trường cùng các bạn. - Khi áp dụng những biện pháp trên kết quả cho thấy chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đã nâng lên rõ rệt, tỉ lệ trẻ béo phì đã giảm và không tăng thêm trẻ thừa cân, béo phì đã giảm so với đầu năm, cụ thể : Tổng số trẻ trong lớp: 25 cháu Tổng số trẻ được cân đo: 25 cháu ĐẦU NĂM CUỐI NĂM TT NỘI DUNG Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % ( cháu) ( cháu) 1 Trẻ phát triển bình thường 17 cháu 68 % 23 cháu 92 % 2 Trẻ SDD nhẹ cân 2 cháu 8% 0 cháu 0 % 3 Trẻ SDD thấp còi 1 cháu 4% 0 cháu 0 % 4 Trẻ béo phì 5 cháu 20% 2 cháu 8 % * Đối với trẻ: - Nhờ thực hiện các biện pháp trên, trẻ béo phì lớp tôi ăn được tất cả các món ăn và các loại thực phẩm mà nhà trường lên thực đơn để nấu. - Trẻ ăn hết suất ăn không xin thêm suất ăn. Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn có thể lực tốt. Trẻ hồn nhiên năng động, đa số trẻ tích cực trong các hoạt động học tập và vui chơi. - Trẻ có ý thức vệ sinh văn minh trong ăn uống và ý thức chăm sóc sức khỏe cho bản thân. * Đối phụ huynh: - Đa số phụ huynh học sinh đều nhận thức tốt hơn về cách chăm sóc và cách nuôi dạy trẻ đảm bảo tính khoa học thể hiện như sau: Không cho trẻ ăn quà vặt ,khi đưa trẻ đến trường quần áo, đầu tóc, tay chân sạch sẽ, gọn gàng. 10
  11. - 100% phụ huynh biết cho trẻ ăn kết hợp đủ 4 nhóm thực phẩm và nhận thức được trẻ béo phì thường mắc các bệnh, quan tâm, chăm sóc trẻ béo phì, tạo không khí vui vẽ, tuyên dương trẻ ăn các món ăn nhiều rau xanh . II. Bài học kinh nghiệm - Từ những việc trên bản thân tôi tự rút ra cho mình bài học kinh nghiệm sau: - Việc điều trị bệnh béo phì ở trẻ em đòi hỏi phải có thời gian, kết hợp sự điều chỉnh hợp lý chế độ ăn của trẻ và các hoạt động phát triển thể lực cho trẻ hàng ngày. - Đối với các bậc cha mẹ trước tiên cần phải loại bỏ và làm thay đổi quan niệm “béo là khỏe, phát tướng” giúp họ hiểu được nguyên nhân trẻ béo phì và đặc biệt là cách phòng bệnh béo phì ở trẻ em. Cần hướng dẫn cho các bậc phụ huynh biết cách theo dõi sự tăng trưởng và phát triển của con mình và cách cho con ăn uống, hoạt động thể lực một cách hợp lý nhằm phòng chống cả tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì và có nguy cơ béo phì cho trẻ em. - Giáo viên cần trao đổi và hướng dẫn phụ huynh biết cách tổ chức bữa ăn cho phù hợp với sức khỏe của con mình và nhân rộng ra hơn với các gia đình khác. - Cần tham mưu với ban giám hiệu nhà trường về cách chăm sóc trẻ béo phì - Kết hợp tốt với phụ huynh để thay đổi dần chế độ ăn cho trẻ. - Tăng cường tổ chức các hoạt động cho trẻ các hoạt động thể lực hàng ngày để tiêu hao năng lượng thừa cho trẻ. - Thực hiện tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh và giáo dục cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh trong cách dùng thực phẩm chế biến thức ăn cho trẻ tại gia đình. III. Ý kiến kiến nghị: - Để thực hiện tốt đề tài “ Một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách" tôi xin kiến nghị: + Kính mong được sự quan tâm hơn nữa của các cấp, các ngành trong công tác chăm sóc trẻ béo phì và có nguy cơ béo phì trong trường mầm non, vì sức khoẻ của trẻ em - vì tương lai thế hệ mới. + Phòng giáo dục thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng công tác chăm sóc nuôi dững trẻ cho giáo viên. + Nhà trường thường xuyên kiểm tra về vấn đề VSATTP, kiểm tra 3 bước ở bếp, kiểm tra khâu tiếp phẩm, kiểm tra việc lưu mẫu thức ăn để giúp bữa ăn cho trẻ được đảm bảo. + Nhà trường có một thực đơn riêng, chế độ ăn riêng cho trẻ béo phì. Trên đây là một số biện pháp phòng chống béo phì cho trẻ ở lớp mình phụ trách, tôi nghĩ rằng những biện pháp này có thể áp dụng cho những lớp còn lại ở 11
  12. trường mình đang công tác.. Rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của BGH nhà trường, các cấp lãnh đạo để bản thân có được những kinh nghiệm quý báu, giúp cho việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ được tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Thanh An, ngày 25 tháng 6 năm 2020 Nhận xét của hội đồng Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến khoa học trường kinh nghiệm của mình viết, không .. sao chép nội dung của người khác .. Người viết .. .. Hoàng Thị Bé Thương NHẬN XÉT CỦA PHÒNG GIÁO DỤC ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................ 12
  13. MỤC LỤC Nội dung đề tài Trang PHẦN I: MỞ ĐẦU 01 1. Lí do chọn đề tài: 2. Cơ sở lí luận 02 3. Cơ sở thực tiễn 4. Mục đích nghiên cứu 03 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Đối tượng nghiên cứu 7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu PHẦN II. NỘI DUNG 04 I. Thực trạng vấn đề 1. Thuận lợi 2. Khó khăn II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 05 * Biện pháp 1: Cân đo theo dõi sức khỏe cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng * Biện pháp 2: Tìm hiểu nguyên nhân trẻ bị béo phì * Biện pháp 3: Tham mưu với ban giám hiệu nhà trường về cách 06 chăm sóc trẻ béo phì và trẻ có nguy cơ béo phì. * Biện pháp 4: Làm tốt góc tuyên truyền với phụ huynh * Biện pháp 5: Kết hợp với phụ huynh thay đổi chế độ ăn cho trẻ 07 * Biện pháp 6: Về công tác giảng dạy: “Tăng cường các hoạt động 08 thể lực hàng ngày để tiêu hao năng lượng thừa cho trẻ” * Biện pháp 7: Giáo dục sức khỏe cho trẻ 09 PHẦN III. KẾT LUẬN 10 I. Kết quả đạt được II. Bài học kinh nghiệm 11 III. Ý kiến kiến nghị: 13