Tài liệu BDTX - Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường THCS (Nội dung II)

doc 93 trang thuyhan 14/12/2025 980
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu BDTX - Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường THCS (Nội dung II)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctai_lieu_bdtx_su_dung_di_san_van_hoa_trong_day_hoc_va_to_chu.doc

Nội dung tài liệu: Tài liệu BDTX - Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường THCS (Nội dung II)

  1. TÀI LIỆU SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS (NỘI DUNG II) Căn cứ Công văn số 8576/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 13 tháng 12 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Hướng dẫn triển khai thực hiện công tác bồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên”; Căn cứ Văn bản số 5977/BGDĐT-GDTrH ngày 07 tháng 7 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương ở cấp THCS và cấp THPT; Căn cứ Công văn 276/BGD&ĐT-GDTrH ngày 11 tháng 01 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triệu tập lớp tập huấn dạy học di sản giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Căn cứ Công văn liên ngành số 73/HD - BGD&ĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng 01 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX”; Căn cứ Kế hoạch số 401/KH-SGDĐT ngày 27 tháng 3 năm 2013 về việc bồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Dựa trên điều kiện thực tiễn và những yêu cầu của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường THCS hiện nay, phòng giáo dục Trung học xây dựng đề cương bồi dưỡng thường xuyên GV THCS như sau: I. Mục đích, yêu cầu Giúp GV THCS học tập, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhận kiến thức, cách tiếp cận và sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở nhà trường, nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, phát triển chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường. GV được bồi dưỡng thực hiện nghiêm túc nội dung hướng dẫn của tài liệu, tích cực trao đổi, đàm thoại để thống nhất các giải pháp thực hiện hiệu quả, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế ở từng địa phương. II. Đối tượng: Giáo viên THCS III. Hình thức và phương pháp bồi dưỡng: 1
  2. 1. Hình thức: Bồi dưỡng tập trung một đợt (Trong hè hoặc đầu năm học 2013-2014); 2. Phương pháp: Thuyết trình, thảo luận nhóm và thực hành tại lớp tập huấn, trải nghiệm di sản. IV. Thời lượng: 30 tiết. Tên và nội dung Môđun Phần I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA (05 tiết) 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa 2. Ý nghĩa của di sản văn hóa đối với dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường 3. Những di sản văn hóa thường được sử dụng trong dạy học và các hoạt động giáo dục 4. Trách nhiệm của nhà trường đối với di sản văn hóa của địa phương, dân tộc và nhân loại. Phần II. SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS (15 tiết) 1. Những yêu cầu về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường 2. Các hình thức tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục với di sản văn hóa trong nhà trường 3. Một số phương pháp dạy học, đánh giá kết quả dạy học, giáo dục có sử dụng di sản văn hóa Phần III. THỰC HÀNH XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ THIẾT KẾ GIÁO ÁN DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CÓ SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA (10 tiết) 1. Xây dựng kế hoạch dạy học và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản ở trường phổ thông 2. Thiết kế giáo án và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản 3. Một số ví dụ minh hoạ Tổng V. Nội dung Thực hiện nội dung bồi dưỡng 2 về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường THCS: - Phần I: Những vấn đề chung về di sản văn hóa; 2
  3. - Phần II: Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường THCS; - Phần III: Thực hành thiết kế giáo án dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản văn hóa. 3
  4. Phần I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa a. Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. b. Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam: Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam. Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 (có hiệu lực từ 01/01/2002), được sửa đổi, bổ sung năm 2009. c. Phân loại di sản: Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa vật thể bao gồm: - Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. 4
  5. - Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học. - Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. - Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. - Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác; Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian. 2. Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục. Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung các tài liệu về lý luận dạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận dạy học bộ môn hầu như chưa đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là các di sản văn hóa. Gần đây trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực, một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho HS tham gia chăm sóc các di sản, chủ yếu là các di tích mang tính lịch sử của địa phương. Việc khai thác các di sản văn hóa ở địa bàn nhà trường đóng như là nguồn tri thức, 5
  6. là phương tiện dạy học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có thường mang tính tự phát. Vì vậy, vai trò và thế mạnh của những di sản văn hóa phong phú, ở địa phương chưa được khai thác đúng mức để sử dụng trọng dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường. Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp cho quá trình học tập của HS trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS. Ý nghĩa, vai trò của các di sản văn hóa có thể được phân tích dưới các góc độ sau: - Về vai trò: Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung. Vì vậy, sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa toàn diện: + Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho HS: Các di sản văn hóa sử dụng trong dạy học, giáo dục đều góp phần nâng cao tính trực quan giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản. Tiếp cận với di sản, HS sử dụng hệ thống tín hiệu thứ nhất (sử dụng các giác quan như mắt - nhìn, tai nghe, mũi – ngửi, tay - sờ, ) để nghe được, thấy được, cảm nhận được và qua đó tiếp thu được những kiến thức cần thiết từ di sản. Những hình ảnh, vật dụng trong bảo tàng sẽ không chỉ giúp các em có thêm hiểu biết mà còn tác động sâu sắc đến tình cảm của các em. Ngoài ra, các giá trị có trong di sản còn được GV khai thác bằng cách đặt các câu hỏi mang tính định hướng hoặc gợi ý cho HS tìm hiểu chúng qua đó di sản được sử dụng như là phương tiện điều khiển quá trình nhận thức của HS. Những gợi ý đó giúp cho hoạt động tham quan trở nên có ý nghĩa hơn và làm cho bài học trở nên sống động hơn. + Giúp HS phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức: Di sản văn hóa là phương tiện quan trọng giúp HS rèn một số kỹ năng học tập như kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếm lĩnh kiến thức cần thiết thu được trong quá trình tiếp cận với di sản; kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di sản văn hóa, của khu bảo tồn. HS có thể thu thập các mẫu vật như các loại lá cây, sâu, bướm; chụp ảnh các loại cây con trong khu bảo tồn (có thể từ ảnh trong phòng giới thiệu khu vực bảo tồn), thông tin từ những nhân viên chăm sóc khu bảo tồn hoặc từ các nguồn khác nhau để nhận biết hiện trạng, nguyên nhân và liên hệ với kiến thức đã học để giải thích sự xuất hiện và tồn tại của khu bảo tồn thiên nhiên, liên hệ với thực tiễn khai thác rừng ở nước ta để tìm hiểu vai trò của khu bảo tồn với công tác bảo vệ đa dạng sinh học. GV nên yêu cầu HS suy nghĩ về nhiệm vụ của mình đối với việc bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc cảnh quan thiên nhiên ở địa phương mình. + Kích thích hứng thú nhận thức của HS: 6
  7. Hứng thú nhận thức là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả của quá trình học tập. Trong giai đoạn nhận thức cảm tính, sự tri giác các đối tượng, hiện tượng là điều kiện để phát sinh cảm giác, tạo nên biểu tượng về chúng và sau đó, nhờ nhận thức lí tính hình thành nên khái niệm hoàn chỉnh về đối tượng, hiện tượng nghiên cứu. Trong quá trình tiếp cận với di sản văn hóa theo sự hướng dẫn của GV, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ được các em tìm hiểu. Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫn hơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng, từ đó các em có được động cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ di sản văn hóa tốt hơn. + Phát triển trí tuệ của HS: Trong quá trình học tập, trí tuệ của HS được phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lí: tri giác, biểu tượng, trí nhớ, .cho HS tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc với những phương pháp dạy học phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát, khả năng xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các em. + Giáo dục nhân cách HS: Di sản văn hóa là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho HS để các em cũng nhận thức được những giá trí đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em nhận thức được bản chất và có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản. Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm túc, kỹ lưỡng cũng chính là rèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học. - Góp phần phát triển một số kỹ năng sống ở HS: Để tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả, HS rất cần kỹ năng sống. Kỹ năng sống được hiểu là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Dạy học với di sản văn hóa tạo điều kiện phát triển một số kỹ năng sống như: + Kỹ năng giao tiếp: 7
  8. Trong quá trình học tập, tiếp cận với di sản văn hóa, HS được rèn luyện cách trình bày, diễn đạt suy nghĩ, quan điểm, nhu cầu, mong muốn, cảm xúc của bản thân dưới hình thức nói, viết một cách phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và văn hóa giao tiếp; đồng thời biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Kỹ năng này giúp HS có mối quan hệ tích cực với nguời khác, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới. Làm việc với di sản, HS có được môi trường giao tiếp cởi mở với bạn bè không chỉ trong phạm vi lớp học, đôi khi với nhiều đối tượng khác (cả người nước ngoài). GV lưu ý cách thức giao tiếp phù hợp cũng chính là góp phần phát triển ở các em một loại kỹ năng sống cần thiết. + Kỹ năng lắng nghe tích cực: Người có kỹ năng lắng nghe tích cực biết thể hiện sự tập trung chú ý và thể hiện sự quan tâm lắng nghe ý kiến hoặc phần trình bày của người khác (bằng các cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười), biết cho ý kiến phản hồi mà không vội đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lí trong quá trình giao tiếp. GV lưu ý HS chú ý lắng nghe người giới thiệu về di sản, đưa ra những câu hỏi tìm hiểu sâu về di sản cũng chính là hướng dẫn các em thực hành kỹ năng lắng nghe tích cực. + Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng: Kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng là khả năng có thể diễn đạt ý kiến, quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của bản thân, thông qua các hình thức nói, viết và cả ngôn ngữ cơ thể (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt, nụ cười,...) một cách phù hợp với đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh, văn hóa giao tiếp và trình bày đúng với nội dung chủ đề đang được quan tâm; thông tin đưa ra đầy đủ, chính xác, được sắp xếp một cách hợp lí, logic và phù hợp với nhu cầu, trình độ của đối tượng giao tiếp; cách trình bày rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và hấp dẫn đối tượng giao tiếp. Cho HS tiếp cận với di sản, GV cần lưu ý yêu cầu HS tìm hiểu sự vật hiện tượng liên quan đến di sản một cách chi tiết, cụ thể và tạo điều kiện để HS trình bày lại được những thông tin thu thập được đồng thời bộc lộ cả suy nghĩ của cá nhân HS về những gì các em trình bày. + Kỹ năng hợp tác: Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung. Học tập với di sản, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ của nhóm HS. Trong quá trình làm việc, HS biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ GV giao; biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm; đồng thời biết hỗ 8
  9. trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết. + Kỹ năng tư duy phê phán: Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng,... xảy ra. Khi làm việc với di sản, HS không chỉ thu thập thông tin rồi mô tả các hiện tượng sự vật được các em tìm hiểu mà còn cần phải biết phân tích chúng một cách có phê phán. Khi sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung, các em phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều; xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng,... đưa ra những nhận định về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng,... Những động tác đó giúp HS phát triển kỹ năng tư duy phê phán. + Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm: Đó là khả năng con người tự tin, chủ động nhận nhiệm vụ phù hợp với khả năng của bản thân, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm, cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ. Việc GV giao nhiệm vụ rõ ràng, HS tiếp nhận nhiệm vụ và trao đổi nhóm, phân công nhau và thực thi nhiệm vụ được giao một cách có ý thức, nhiệt tình và có kết quả. Quá trình đó giúp cho kỹ năng đảm nhận trách nhiệm của HS được rèn luyện. + Kỹ năng đặt mục tiêu: Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó. Trong cả quá trình tiếp cận di sản, GV đã cùng HS xác định mục tiêu chung. Ở từng hoạt động cụ thể, HS cần biết mình phải đạt được cái gì sau buổi tìm hiểu di sản và biết phải làm gì để đạt được mục tiêu đó. Kỹ năng đặt mục tiêu giúp HS họat động có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu do chính mình xác định. + Kỹ năng quản lí thời gian: Đó là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc chính, trọng tâm trong một thời gian nhất định. Các buổi dạy học với di sản bao giờ cũng bị giới hạn bởi thời gian, dù có vận dụng phương pháp dạy học theo dự án, nghĩa là HS có vài ngày, đôi khi vài tuần để chuẩn bị, song thời gian vật chất dành cho việc này thực ra rất hạn chế. Điều đó đòi hỏi HS phải biết lên kế hoạch, sắp xếp thời gian và tuân thủ đúng kế hoạch đã định mới có thể thực hiện đầy đủ các công việc và cuối cùng có sản phẩm theo dự kiến. Nếu biết tuần tự thực hiện các bước trong cả quá 9
  10. trình, HS sẽ tránh được căng thẳng do áp lực công việc gây nên. Quản lí thời gian tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm. + Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin: Kỹ năng này giúp HS có thể thu được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác và kịp thời. Trước khi làm việc với di sản, HS đã cùng GV xác định rõ chủ đề mà mình cần tìm kiếm thông tin; HS được thông báo về những loại thông tin cần phải tìm kiếm, nguồn / các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp những loại thông tin đó; HS biết cách chuẩn bị công cụ để thu thập thông tin; cách tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch đã xây dựng, cách sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung một cách hệ thống sau đó phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống các thông tin đó và cuối cùng là viết báo cáo. Những công việc nêu trên được HS tuần tự thực hiện. Cách tổ chức như vậy sẽ giúp các em rèn được kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin trong quá trình làm việc với di sản. - Tạo điều kiện tổ chức quá trình họat động của GV và HS một cách hợp lý Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làm việc. GV không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cần hướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các thông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày lại những hiểu biết của cá nhân hoặc nhóm. Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm những hiện vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được. Môi trường làm việc thay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao. 3. Những di sản thường được sử dụng trong dạy học, giáo dục ở nhà trường phổ thông Di sản văn hóa ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và có nhiều giá trị. Tính đến năm 2012, Việt Nam có 07 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Quần thể di tích Cố đô Huế; Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An; Khu di tích Mĩ Sơn,Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng Long; Thành nhà Hồ ); 07 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Nhã nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh; Ca trù, Hội Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương); 03 di sản thông tin tư liệu thế giới (Mộc bản triều Nguyễn; 82 bia đá ở Văn Miếu Quốc tử giám; Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm); 08 khu dự trữ sinh quyển thế giới (rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh; đảo Cát Bà, Hải Phòng; khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang; khu 10
  11. dự trữ sinh quyển đồng bằng châu thổ sông Hồng; khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An, khu dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau; khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm; khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai); 01 di sản thiên nhiên thuộc mạng lưới công viên địa chất toàn cầu (Cao nguyên đá Đồng Văn); trên 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia; hàng triệu mẫu vật, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được lưu giữ trong hơn 120 bảo tàng và các sưu tập tư nhân. Đặc biệt, các hiện vật văn hóa trong cuộc sống hàng ngày, các di sản văn hóa phi vật thể đang sống trong cộng đồng rất giàu có nhưng ít được biết đến và khai thác. Tiềm năng di sản văn hoá Việt Nam Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã để lại cho chúng ta ngày nay kho tàng di sản văn hoá (phi vật thể và vật thể) cực kỳ phong phú và quý giá. Căn cứ nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL), cả nước ta hiện có 40.000 di tích lịch sử – văn hoá. Trong số đó, Bộ VHTTDL đã xếp hạng 3152 di tích có giá trị quốc gia, gồm: 1468 di tích lịch sử – văn hoá; 1478 di tích kiến trúc – nghệ thuật; 77 di tích khảo cổ; 129 danh lam – thắng cảnh(1). Căn cứ Điểm 3, Điều 29, Chương IV – Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể (Luật Di sản văn hóa). Mục 1: Di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, theo đề nghị của Bộ VHTTDL và văn bản thẩm định của Hội Di sản Văn hoá Quốc gia, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định xếp hạng 23 di tích có giá trị quốc gia đặc biệt (xem phụ lục 1); đồng thời cũng đã đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) xem xét, đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thiên nhiên, di sản văn hoá vật thể tiêu biểu của nhân loại. Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh được UNESCO ghi danh lần thứ nhất với giá trị cảnh quan ngoại hạng (năm 1994), lần thứ hai với giá trị địa mạo – địa chất (năm 2000); Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới năm 2003; 05 di sản văn hoá vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào danh mục di sản văn hoá của nhân loại là: Quần thể các công trình kiến trúc cố đô Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế (năm 1993); Khu phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam; Khu di tích tháp Chàm – Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam; Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (năm 2010); Thành nhà Hồ thuộc tỉnh Thanh Hoá (năm 2012) (2). Về văn hoá phi vật thể: Cả nước có 3355 làng nghề và làng có nghề; trong số đó có trên 1000 làng được công nhận là làng nghề. Trên 400 làng được công nhận là làng nghề truyền thống, 145 người được công nhận là (1) Nguồn : Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL. (2) Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL. 11
  12. nghệ nhân. Theo đề nghị của Bộ VHTTDL,Thủ tướng đã quyết định công nhận 55 làng nghề truyền thống tiêu biểu của quốc gia; công nhận đợt I: 1 nghệ nhân nhân dân, 20 nghệ nhân ưu tú (3). - Lễ hội: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn, cũng như ở đô thị. Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh. Do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân dân sâu sắc. Cả nước có: 7966 lễ hội, trong số đó có 7039 lễ hội dân gian/truyền thống (chiếm 88,36%); 332 lễ hội lịch sử – cách mạng (chiếm 4,17%); 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,29%); 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,13%); còn lại 41 lễ hội khác, có thể gọi là lễ hội văn hoá du lịch (chiếm 0,51%). Lễ hội dân gian / truyền thống, lễ hội lịch sử, tôn giáo có lịch sử lâu đời và ẩn chứa các giá trị: giá trị cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng; giá trị hướng về cội nguồn; giá trị cân bằng đời sống tâm linh; giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hoá (4). - Những huyền thoại về các vị thánh, thần như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Phù Đổng Thiên Vương về các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá như Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung – Nguyễn Huệ Những truyện cổ tích, truyện dân gian, ca dao, tục ngữ cũng đã được nghiên cứu, sưu tầm, xuất bản. Chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latinh (quốc ngữ) chúng ta cũng đã được biết, nay còn biết cả chữ Chăm cổ, chữ Thái cổ Giá trị văn hoá phi vật thể của nhân dân ta cũng đã được UNESCO thừa nhận. Những năm qua, UNESCO đã ghi danh các di sản văn hoá phi vật thể sau đây của Việt Nam vào danh mục Di sản phi vật thể tiêu biểu của nhân loại: Nhã nhạc Cung đình Việt Nam – Nhã nhạc (Triều Nguyễn) – Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, tỉnh Thừa Thiên Huế (công nhận năm 2003); Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại (công nhận năm 2005); Hát quan họ (dân ca quan họ Bắc Ninh) – Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (công nhận năm 2009); Hát ca trù – Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (2009); Lễ hội Thánh Gióng ở đền Phù Đổng (Gia Lâm) và đền Sóc (Sóc Sơn) thành phố Hà Nội – Di sản đại diện của nhân loại (năm 2010); Hát Xoan, tỉnh Phú Thọ – Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (2011); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2012). Văn (3) Nguồn: Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội làng nghề, tổ nghề. (4) GS.TS. Ngô Đức Thịnh, Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền (Tham luận tại Hội thảo khoa học : Lễ hội - nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý, do Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và Bộ VHTTDL phối hợp tổ chức tháng 5/2012 tại Hà Nội),Tài liệu lưu tại HĐDSVHQG. 12
  13. bia Quốc Tử Giám – Hà Nội, Châu bản Vương triều Nguyễn cũng đã được ghi nhận là di sản ký ức của khu vực và của nhân loại. Hiện tại, chúng ta cũng đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh: Đờn ca tài tử Nam Bộ vào danh mục Di sản văn hoá đại diện của nhân loại Khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, lắm mưa, nhiều bão, nắng nóng, độ ẩm cao, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh, cộng thêm ý thức bảo tồn di sản chưa thật tốt, nên có những di sản văn hóa vật thể nay chỉ còn là địa danh, là phế tích; có những di sản văn hóa phi vật thể thật sự đã bị thất truyền. Đây thực sự là điều đáng tiếc. Những di sản mà Nhà nước đã xếp hạng, UNESCO đã ghi danh vào danh mục Di sản đại diện của nhân loại cả vật thể, phi vật thể và những di sản đã biết đến, chưa được xếp hạng, cũng còn khá nhiều. Đó chính là cơ sở, là nền tảng để chúng ta sử dụng trong giáo dục nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa đối với hiện tại và tương lai. Bên cạnh khối lượng, chất lượng các di sản nói trên, nước ta còn có 217 bảo tàng và các bảo tàng đó đang bảo quản, trưng bày trên 3 triệu tài liệu hiện vật. Gần đây, Bộ VHTTDL đã trình Thủ tướng Chính phủ công nhận 30 bảo vật quốc gia trong số các hiện vật nói trên. Ví dụ: Trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, thạp đồng Đào Thịnh, tượng hai người cõng nhau thổi khèn thuộc văn hoá Đông Sơn, đài thờ Trà Kiệu, tượng Phật Đông Dương, tượng Bồ tát Tara thuộc văn hoá Chăm, tượng Nữ thần Đêvi, tượng Phật Lộc Mỹ, tượng thần Surya thuộc văn hoá Óc Eo, tượng Adiđà chùa Phật Tích, tượng nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp... và 04 di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Cuốn Đường Kách mệnh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (thời kỳ chống thực dân Pháp), Lời kêu gọi “mỗi người làm việc bằng hai” (thời chống Mỹ cứu nước), Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (5). Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc. Trên địa bàn Phú Thọ có 34 dân tộc cùng sinh sống, từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tạo ra những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. Hiện nay, Phú Thọ có 1372 di tích lịch sử văn hóa (Trong đó, Khu di tích lịch sử Đền Hùng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, 73 di tích được xếp hạng quốc gia, 219 di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng cấp tỉnh và 260 lễ hội đang được duy trì thường xuyên ). Những di sản văn hóa của địa phương đang được lưu giữ trong nhân dân, lưu giữ tại Bảo tàng Hùng Vương (Có hai bảo tàng Hùng Vương: Bảo tàng Hùng Vương tại khu di tích lịch sử Đền Hùng và Bảo tàng Hùng Vương cấp tỉnh ở phường Gia Cẩm, thành phố Việt Trì) Đặc biệt, Phú Thọ có 02 di sản văn hóa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đó là hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. (5) Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL. 13
  14. Những giá trị văn hóa, di sản văn hóa ở Phú Thọ đều có khả năng khai thác phục vụ cho tham quan, du lịch, sử dụng trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông. Phú Thọ có nhiều di sản nổi tiếng như: Khu di tích Đền Hùng (thành phố Việt Trì); đầm Ao Châu, Ao Giời- Suối Tiên, đền Mẫu Âu Cơ (huyện Hạ Hòa); khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (huyện Tân Sơn); vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ (huyện Thanh Thủy); các khu di chỉ khảo cổ: Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun; các di tích kháng chiến: Chiến khu Hiền Lương (huyện Hạ Hoà), chiến khu Vạn Thắng (huyện Cẩm Khê), tượng đài chiến thắng sông Lô (huyện Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cổ Tiết (huyện Tam Nông) và Chu Hoá (huyện Lâm Thao) Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, lễ hội Đền Hùng, hội Phết (Hiền Quan), hội làng Đào Xá, Sơn Vi; Các làng nghề truyền thống: may nón lá (xã Sai Nga, huyện Cẩm Khê); làng làm ủ ấm Sơn Vi (huyện Lâm Thao), làng làm bún Hùng Lô (xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì) đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống. ; nhiều làn điệu dân ca, nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại về dựng nước, nhiều truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn, mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng Do đó, Phú Thọ có điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông. Di sản văn hóa Việt Nam nói chung, di sản văn hóa Phú Thọ nói riêng là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng các dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Đối với giáo dục, việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục truyền thống, lòng yêu quê hương, đất nước, giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh góp phần giáo dục toàn diện học sinh. Di sản văn hoá Việt Nam là nguồn tài nguyên vô tận để dạy và học suốt đời. Kho tàng tri thức chứa đựng trong hệ thống di tích, đền chùa, bảo tàng, trong con người và trong môi trường sống xung quanh chúng ta vô cùng phong phú. Mọi di sản văn hoá đều có tiềm năng và điều kiện để sử dụng trong dạy học, giáo dục ở trường phổ thông. Từ di sản thế giới, di sản quốc gia đến di sản của địa phương, của cộng đồng; từ di sản văn hoá đến di sản thiên nhiên; từ di sản vật thể đến di sản phi vật thể, di sản thông tin tư liệu mọi di sản đều có 14
  15. khả năng sử dụng để dạy học, giáo dục trong trường phổ thông. Để khai thác và phát huy giá trị di sản trong việc dạy học, giáo dục ở trường phổ thông cần chú ý những vấn đề sau: - Mọi di sản đều có giá trị. Nhiều giá trị khác nhau được tích hợp trong một di sản. Tuỳ thuộc vào mục tiêu giáo dục mà chúng ta có thể nhận dạng ra những giá trị của di sản. Đó là giá trị thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như: Lịch sử, nghệ thuật, văn hoá, văn học, kiến trúc, mĩ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức dân gian Đó là những giá trị thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên như : Y học, địa chất, địa mạo, sinh thái, môi trường, thiên văn, Đó là những giá trị thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật như : Vật lý, hoá học, cơ học, thông tin, điện tử . Từ những di sản nổi tiếng thế giới đến di sản còn ít được biết đến đang lưu giữ và thực hành trong đời sống cộng đồng đều có giá trị và có những khả năng đa dạng để khai thác sử dụng dạy học. Những di sản của địa phương bao gồm các di tích, di vật, những đồ vật thể hiện văn hóa đời thường và các di sản phi vật thể gần gũi với nhà trường là tiềm năng trực tiếp, dễ khai thác và phát huy thường xuyên, hiệu quả nhất. Nhà trường cần ưu tiên sử dụng những di sản này trong dạy và học. Di sản văn hoá phi vật thể thường gắn bó một cách chặt chẽ với di sản vật thể và di sản thiên nhiên. Di sản văn hoá phi vật thể cũng luôn gắn bó chặt chẽ với con người, được biểu hiện thông qua con người cùng với không gian văn hoá có liên quan. Những người nắm giữ di sản văn hoá phi vật thể thường là những nghệ nhân, người lớn tuổi có tri thức và kinh nghiệm, người làm nghề chuyên nghiệp, những dòng họ, gia đình thực hành nghề truyền thống Họ là những chủ thể của di sản phi vật thể và có thể trở thành những đối tác, cộng tác viên đắc lực của nhà trường trong việc sử dụng di sản để dạy học. Di sản phi vật thể có ở mọi nơi trong cuộc sống đương đại. Gắn kết di sản văn hoá phi vật thể với giáo dục ở trường phổ thông giúp cho các bài học sinh động, cảm xúc và có ý nghĩa giáo dục văn hoá một cách sâu sắc. Vì vậy, ở nhiều nước trên thế giới di sản phi vật thể thường được sử dụng để dạy học. Để xác định giá trị di sản và có cách thức sử dụng di sản để dạy học một cách hiệu quả nhất, nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cán bộ nghiên cứu, cơ quan quản lý di sản để tiếp cận di sản, nhận dạng giá trị di sản và khai thác di sản một cách phù hợp và hiệu quả. Ở mỗi tỉnh và thành phố đều có các cơ quan quản lý di sản. Đó là các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng tỉnh và thành phố. Đó là các ban quản lý di tích, di sản trực thuộc các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc tỉnh (Khu di tích lịch sử Đền Hùng không trực thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch mà trực thuộc trực tiếp UBND tỉnh Phú Thọ). Đó là các ban quản lý di tích do cộng đồng quản lý trực thuộc chính quyền cấp huyện, xã. Một số viện nghiên cứu về chuyên ngành trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, 15
  16. Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia là những trung tâm lưu trữ dữ liệu phong phú về di sản văn hoá Việt Nam. 4. Trách nhiệm của nhà trường phổ thông đối với di sản văn hóa Việt Nam Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho HS về di sản văn hoá, góp phần bảo vệ di sản văn hoá vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hoá để dạy học. Việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá. Để đảm bảo việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông phù hợp, khả thi và bền vững thì nội dung lựa chọn sử dụng trong dạy học và các hoạt động giáo dục cần có sự linh hoạt và phải phù hợp với văn hóa địa phương và dân tộc, phù hợp với mọi điều kiện của nhà trường ở: Nông thôn, đô thị, miền núi, ven biển, hải đảo... và mọi đối tượng HS. Quan niệm chỉ đạo là lấy HS và hoạt động học làm trung tâm; tận dụng khai thác nguồn học liệu tại chỗ là những di sản văn hóa gần gũi, xung quanh môi trường sống, dễ hiểu với HS và sử dụng những kinh nghiệm và tri thức của người địa phương. Đồng thời, việc giáo dục di sản, sử dụng di sản để dạy học cần chú trọng hướng đến các thiết chế văn hóa và loại hình đa dạng là những bảo tàng, di sản vật thể (di tích văn hóa, thiên nhiên, lịch sử, cách mạng, kháng chiến, v.v.), di sản thiên nhiên, di sản phi vật thể, nhất là những di sản sống, nhân chứng sống ở xung quanh và gần gũi với nhà trường. Theo đó, hoạt động giáo dục di sản và sử dụng di sản để dạy học là những hoạt động giáo dục có định hướng, không theo phong trào và hình thức. Cần xác định sử dụng di sản như nguồn học liệu để trau dồi hiểu biết về di sản và rèn luyện phương pháp học tập và kỹ năng sống. Nhà trường cần đổi mới phương pháp tiếp cận di sản thông qua các hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp nhằm giúp HS tự chủ, năng động, sáng tạo, khám phá - không theo mô hình học thuộc lòng, hỏi đáp, thi chấm điểm. GV đóng vai trò là người thiết kế hoạt động, điều phối viên, giúp tổ chức hoạt động cho HS. Cần xác định và sử dụng kết hợp tối đa khung thời gian: Hoạt động ngoại khóa, chương trình ngoài giờ, chương trình địa phương, các tiết chào cờ, sinh hoạt tập thể, v.v. cho các hoạt động giáo dục di sản. Khuyến khích tư duy phản biện của HS và GV. Tránh lặp lại các định kiến và cần làm mới nhận thức, tiếp cận về di sản văn hóa và phương pháp giáo dục. Do đặc thù của môn Âm nhạc (THCS) nên khi sử dụng di sản trong dạy học cần chú ý: 16
  17. - Di sản là phương tiện để hỗ trợ các nội dung trong chương trình Âm nhạc hiện hành, chứ không phải dạy về di sản. Như vậy nội dung chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn Âm nhạc không thay đổi, chỉ thay đổi về phương tiện dạy học... - Việt Nam có nhiều di sản, nhưng trong dạy học Âm nhạc ở THCS, chủ yếu là dùng 5 di sản gắn liền với sinh hoạt văn hóa và âm nhạc, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ Bắc Ninh- Bắc Giang, Ca trù và Hát xoan. Ngoài ra, các loại di sản khác cũng có thể được khai thác và sử dụng sao cho linh hoạt và hiệu quả. Dưới đây là một số cách khai thác tư liệu di sản cho môn Âm nhạc : Tư liệu về di Mô tả sản - Hình ảnh về kinh đô Huế, dàn nhã nhạc cung đình Huế, các loại nhạc cụ dùng trong dàn nhã nhạc, ... - Hình ảnh về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: lễ hội, cồng chiêng, nhà rông, ... Hình ảnh về di - Hình ảnh về hát quan họ Bắc Ninh - Bắc Giang: hội Lim, sản trang phục, hình thức hát quan họ, các liền anh liền chị, ... - Hình ảnh về hát ca trù: nhạc cụ, trang phục, các nghệ nhân, ... - Hình ảnh về hát xoan ở Phú Thọ: trang phục, hát múa, ... - Đĩa nhạc, video về nhã nhạc cung đình Huế. - Đĩa nhạc, video về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Âm thanh về di Nguyên. sản - Đĩa nhạc, video về quan họ Bắc Ninh - Bắc Giang. - Đĩa nhạc, video về hát ca trù. - Đĩa nhạc, video về hát xoan. - Bài viết, câu chuyện hoặc xuất xứ về nhã nhạc cung đình Huế. - Bài viết, câu chuyện hoặc thông tin về không gian văn hóa Thông tin về di cồng chiêng Tây Nguyên. sản - Bài viết, câu chuyện hoặc lịch sử về quan họ Bắc Ninh - Bắc Giang. - Bài viết, câu chuyện hoặc thông tin về hát ca trù. 17
  18. - Bài viết, câu chuyện hoặc truyền thuyết về hát xoan. - Các nhạc cụ trong dàn nhã nhạc cung đình Huế. - Cồng chiêng Tây Nguyên. Hiện vật về di - Bản nhạc quan họ, trang phục quan họ. sản - Các nhạc cụ trong hát ca trù: đàn đáy, phách, trống chầu. - Lời ca của bài hát xoan, trang phục biểu diễn... Để giáo dục qua các di sản đạt hiệu quả cao, cần lưu ý: Một là: Về nhận thức thì giáo dục qua di sản là trách nhiệm của toàn xã hội, của cả một hệ thống chính trị, trước hết là của các gia đình và nhà trường (xã hội hóa giáo dục). Đây hiển nhiên không phải là trách nhiệm chỉ của riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo, của ngành giáo dục. Ngành giáo dục sử dụng phương pháp dạy và học thông qua các di sản như là một phương pháp bổ trợ tích cực nhằm củng cố và mở rộng kiến thức cho HS. Hai là: Giáo dục thông qua di sản là phương thức giáo dục vừa có tính phổ biến, vừa không phụ thuộc vào độ tuổi của người học và đạt hiệu quả cao, góp phần tạo lập, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người và không đòi hỏi quá nhiều chi phí, “chơi mà học, học mà chơi”: Khi trẻ mới sinh, sự vuốt ve, cưng nựng, lời ru và tiếng hát của người mẹ từ ngày này qua ngày khác thật sự đã xác lập được phản xạ có điều kiện đầu tiên ở não bộ trẻ. Để rồi sau đó, lúc trẻ giận hờn, mẹ nựng, mẹ ru “cơn hờn” dịu lại. Lúc trẻ vẫn đang mải chơi, nhưng đã đến giờ trẻ cần được ngủ, mẹ bế trẻ và chỉ vài động thái cưng chiều, vài lời hát ru, trẻ đã “chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành”. Khi trẻ biết nói, biết nhận biết, não bộ trẻ bắt đầu hình thành được các khái niệm, từ giản đơn đến phức tạp, mà những khái niệm đầu đời ấy chính là di sản văn hoá: tiếng nói, đồ vật, cái nôi, cái giường, cái chăn, cái bát, cái thìa, đôi đũa, cái nhà mà trẻ vẫn tiếp xúc hàng ngày, v.v... Tới tuổi cắp sách tới trường, trẻ lại một lần nữa được làm quen, được tiếp cận với di sản văn hoá... Thế là các khái niệm được định hình và trở thành hữu thức khi được tiếp nhận ở các lớp học tiếp theo, v.v... Ba là: Dạy và học thông qua các di sản văn hoá là phương pháp trực quan, sinh động và thực sự có hiệu quả. Do mục tiêu đào tạo, do khối lượng kiến thức cần phải truyền thụ cho HS các cấp, chúng ta hiện chưa đưa việc dạy, học các di sản văn hoá vào chương trình bắt buộc (có thời lượng), mà mới chỉ dừng lại ở chương trình ngoại khoá, ở các giờ tự học, hoặc sinh hoạt tập thể. Từ đầu năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thí điểm việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông (Trong đó ở Phú Thọ có thí điểm 02 trường THPT: Việt Trì, Long Châu Sa; 02 trường THCS: Gia Cẩm, Nông Trang). Ở đây, mức độ là “sử dụng” di sản văn hóa, coi di sản văn hóa như là phương tiện, tư liệu dạy 18
  19. học, hỗ trợ cho bài học thêm sinh động, học sinh hứng thú, qua đó giáo dục học sinh lòng yêu quê hương, đất nước; giáo dục truyền thống, đạo lý, hình thành nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh; giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa bản sắc dân tộc. Bốn là: Để nhằm tăng cường tính hành dụng trong học tập, củng cố và hoàn thiện các kiến thức đã học trên lớp, góp phần bổ sung, nâng cao kiến thức và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng hiểu biết về di sản, biết bảo vệ, tuyên truyền cho cộng đồng, bảo vệ di sản; có thái độ ứng xử đúng đắn với các di sản. Dạy – học thông qua di sản chỉ đạt kết quả cao khi được tổ chức có kế hoạch, có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với ban quản lý các di tích, ban giám đốc các bảo tàng ; xác định rõ chủ đề dạy, học tại trường, tham quan và đa dạng hoá các hình thức thể hiện trong giờ ngoại khoá tại trường, trong mỗi lần tới di tích, tới bảo tàng. Di sản quanh chúng ta, rất gần gũi với chúng ta, nên trước hết cần khai thác các di sản có sẵn tại địa phương; sau đó, nếu có điều kiện mới tiến tới đưa HS tới các di sản ngoài địa phương. Tuy nhiên, cần chú ý là mọi di sản đều được khai thác nhiều lần trong giảng dạy, cũng như trong học tập và điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu kiến thức ở từng cấp học của HS. Dạy học thông qua các di sản, hay giáo dục thông qua các di sản là phương pháp tối ưu không chỉ giúp cho HS củng cố, mở rộng các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp, mà còn bồi dưỡng trực tiếp cho các em năng lực cảm nhận cái đẹp, cái hay qua các công trình kiến trúc, các mảng chạm khắc lộng lẫy ở các đình, chùa... qua các làn điệu dân ca, qua các cảnh quan thiên nhiên vừa gần gũi, vừa say đắm lòng người. Đồng thời, giúp HS tích lũy vốn sống, kỹ năng lao động, kỹ năng giao tiếp; kỹ năng ứng xử, tôn trọng quá khứ để vững bước tiến vào tương lai v.v... Phần II. SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS 1. Những yêu cầu về sử dụng di sản trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông Di sản văn hóa có ý nghĩa nhất định đối với quá trình dạy học, giáo dục. Tuy nhiên muốn sử dụng chúng có hiệu quả, người GV phải chú ý tuân thủ một số yêu cầu trong chuẩn bị các điều kiện thực hiện dạy học với di sản và triển khai hoạt động dạy học với di sản. Cụ thể là: Thứ nhất: Đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông của môn học và mục tiêu giáo dục di sản : - Đảm bảo chương trình giáo dục phổ thông môn học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (không thêm, bớt thời lượng làm thay đổi chương trình). 19
  20. - Đảm bảo mục tiêu giáo dục phổ thông gắn với mục tiêu giáo dục di sản. Mục tiêu từng cấp học nói chung, các môn học trong nhà trường phổ thông đều có mục tiêu cụ thể cho từng cấp, lớp học. Trên cơ sở của những mục tiêu đó, mục tiêu từng bài được xây dựng. Vì vậy, chuẩn bị lựa chọn di sản phục vụ cho việc dạy học một bài học hoặc một nội dung/chuyên đề của môn hoặc nhiều môn học, GV cần xác định mục tiêu bài học/ chuyên đề và lựa chọn di sản phải hướng vào thực hiện mục tiêu đã được xác định và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu được thuận lợi hơn. Bên cạnh đó GV cần xây dựng thêm một số yêu cầu về di sản đối với HS. Ví dụ: HS có thêm hiểu biết về sự ra đời của di sản, về cấu trúc hình thức và nguyên nhân của sự tạo thành cấu trúc đó, về ý nghĩa của di sản đối với đời sống tinh thần, vật chất của người dân ở địa phương có di sản, Từ đó có thái độ tôn trọng di sản, có hành vi giữ gìn và chăm sóc di sản. Tuy nhiên, tùy cách sử dụng di sản để thiết kế mục tiêu giáo dục di sản cho phù hợp. Nếu đưa HS tới địa điểm có di sản, GV ngoài yêu cầu HS tìm hiểu về hình thức, ý nghĩa di sản cần kết hợp cho các em tham gia một số hoạt động góp phần gìn giữ di sản như quét rác, nhặt cỏ, làm sạch quanh khu vực có di sản. Nếu sử dụng các hình ảnh về di sản trong dạy học trên lớp thì GV nên có biện pháp để học sinh thể hiện sự hiểu biết và thái độ của mình đối với di sản. Thứ hai: Xác định nội dung và thực hiện các bước chuẩn bị chu đáo Dù tiến hành dạy học tại địa điểm có di sản hay dạy học trong lớp học có sử dụng di sản, GV cần chuẩn bị kỹ nội dung và các điều kiện thực hiện. Ở đây chúng ta tạm coi việc chuẩn bị nội dung chuyên môn đã được tiến hành chu đáo theo quy định của chuẩn kiến thức, kỹ năng bộ môn và theo gợi ý về phương pháp dạy học môn học, chúng ta tập trung vào việc xác định nội dung và các bước chuẩn bị liên quan đến khai thác di sản như một phương tiện dạy học. - Về nội dung liên quan đến di sản, GV cần cân nhắc những yêu cầu đã được xác định, ví dụ yêu cầu HS tìm hiểu nguồn gốc của di sản, nguyên nhân tạo thành cấu trúc của di sản, sự phát triển của di sản qua thời gian, ý nghĩa của di sản, cảm nhận của HS với di sản, HS có thể làm gì để bảo vệ, tôn tạo di sản, Những yêu cầu này càng được nêu chi tiết, trình bày đơn giản càng giúp HS nhận biết rõ nhiệm vụ cần thực hiện. GV cần lưu ý về thời gian HS có thể làm việc tại địa điểm có di sản để đưa ra các yêu cầu về nội dung cho phù hợp. GV có thể hướng dẫn HS tìm hiểu trước các thông tin liên quan tới di sản, khi làm việc với di sản, HS sẽ trao đổi, quan sát, so sánh những gì thu thập được với thực tế di sản, từ đó có sự hiểu biết sâu sắc, kỹ hơn về di sản. GV phải tìm hiểu di sản trước khi đưa HS tiếp cận chúng để có thể hỗ trợ HS khi cần. Tuy nhiên không nhất thiết GV phải biết đầy đủ, chi tiết về những gì HS sẽ thu thập, tìm kiếm về di sản. Việc HS tìm hiểu được những thông tin bổ sung, thông tin “lạ” về di sản sẽ đem lại niềm vui, sự phấn khởi cho HS, kích thích 20