Tài liệu BDTX - Các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trung học

doc 57 trang thuyhan 16/10/2025 1090
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu BDTX - Các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trung học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctai_lieu_bdtx_cac_phuong_phap_va_ky_thuat_day_hoc_tich_cuc_t.doc

Nội dung tài liệu: Tài liệu BDTX - Các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trung học

  1. DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT 1. BDTX: Bồi dưỡng thường xuyên 2. THCS: Trung học cơ sở 3. THPT: Trung học phổ thông 4. UBND: Ủy ban nhân dân 5. GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo 6. PPDH: PPDH 7. KTĐG: Kiểm tra đánh giá 8. DH: Dạy học 9. KHKT: Khoa học kỹ thuật 10. CBQL: Cán bộ quản lí 11. GV: Giáo viên 12. HS: Học sinh 13. KTDH: Kỹ thuật dạy học 14. KT: Kiến thức 15. KN: Kỹ năng 16. ND: Nội dung 17. DHDA: Dự án dạy học 18. NH: Người học 19. BTNB: Bàn tay nặn bột 20. GQVĐ: Giải quyết vấn đề 1
  2. MỤC LỤC Nội dung Trang I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH 5 1. Yêu cầu về đổi mới PPDH 5 2. Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh 6 3. Một số định hướng đổi mới PPDH 9 II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC 24 1. Một số vấn đề chung về phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực 24 2. Một số PPDH tích cực 26 3. Một số KTDH tích cực 42 III. THẢO LUẬN 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 2
  3. TÀI LIỆU CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH TRUNG HỌC (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên Nội dung II: Dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học tỉnh Phú Thọ) 1. Căn cứ xây dựng tài liệu Thông tư 26/2012/TT-BGDĐT ngày10 tháng 7 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên đối với giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính Phủ về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Kế hoạch số 808/KH-UBND ngày 11 tháng 3 năm 2014 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, 3
  4. hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Kế hoạch số 626/KH-SGD&ĐT ngày 25 tháng 4 năm 2014 của Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ về việc thực hiện kế hoạch của UBND tỉnh Phú Thọ thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế giai đoạn 2014-2020 2. Mục đích, yêu cầu - Giúp cán bộ quản lí, giáo viên trung học nghiên cứu, học tập, bồi dưỡng thường xuyên, củng cố và cập nhật những nội dung về đổi mới PPDH, KTDH tích cực theo tinh thần đổi mới; - Yêu cầu cán bộ quản lí, giáo viên trung học thực hiện nghiêm túc nội dung hướng dẫn của tài liệu, tích cực nghiên cứu, học tập sáng tạo để lĩnh hội nội dung và triển khai thực hiện phù hợp, hiệu quả trong điều kiện thực tế của đơn vị. 3. Đối tượng bồi dưỡng - Cán bộ quản lí THCS, THPT; - Giáo viên THCS, THPT. 4. Hình thức bồi dưỡng BDTX tập trung: trên cơ sở tài liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo, báo cáo viên sẽ hướng dẫn CBQL, GV trung học tiếp cận nội dung, nghiên cứu, học tập, hệ thống hóa kiến thức, giải đáp thắc mắc. Kết hợp với hình thức sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ tại tổ, nhóm chuyên môn của nhà trường, cụm trường; sinh hoạt chuyên môn trên mạng thông tin “Trường học kết nối”. 5. Thời lượng Chương trình BDTX nội dung II dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học năm học 2016-2017: 30 tiết. 4
  5. I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PPDH 1. Yêu cầu về đổi mới PPDH Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của NH. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của NH. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của NH; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để NH tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực NH và một số biện pháp đổi mới PPDH theo hướng này. Hiện nay, tình trạng khá phổ biến là giáo viên lệ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên. Vẫn còn quan niệm cho rằng sách giáo khoa là “pháp lệnh” nên nhiều giáo viên đã cố gắng thuyết trình, giảng giải hết những nội dung kiến thức có trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh học thuộc, nhớ máy móc theo sách giáo khoa, thậm chí biến giờ dạy thành một giờ “đọc chép” từ sách giáo khoa. Chính việc cố gắng để dạy hết kiến thức trong sách giáo khoa đã gây ra sự quá tải, nặng nề, thiếu thời gian cho một tiết học trên lớp. Nội dung của sách giáo viên cũng chỉ là những hướng dẫn được cho rằng “có thể tốt nhất” mà thôi. Vì thế khi giảng dạy giáo viên hoàn toàn được sáng tạo mà không phải 5
  6. lệ thuộc vào đó. Nhiều giáo viên sử dụng PPDH truyền thống (Dùng ngôn ngữ, thực hành, luyện tập ) một cách thụ động, chậm cải tiến, ít áp dụng phương pháp, KTDH tích cực nên hiệu quả bài học chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới theo định hướng phát triển năng lực học sinh. PPDH truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ bản, PPDH này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ thầy sang trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với PPDH truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao. Song do quá đề cao người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của NH; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế. 2. Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh Mục tiêu của đổi mới PPDH là để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần hình thành và phát triển toàn diện về: đức, trí, thể, mỹ cho học sinh. Hiện nay nền GD&ĐT nước nhà đang có những bước chuyển mình rõ rệt .. Chúng ta đang cố gắng để xây dựng cho từng môi trường sư phạm thật trong lành, thân thiện và mỗi nhà giáo của chúng ta cũng đang phấn đấu để trở thành tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Trên con đường phát triển của đất nước, sự đổi mới của nền GD&ĐT để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH chắc chắn không thể thiếu sự đổi mới và sáng tạo các phương pháp và phương tiện trong quá trình dạy học của mỗi thầy, cô giáo chúng ta. Vì đó chính là trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp. Đổi mới PPDH đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của NH, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để 6
  7. đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của NH, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng PPDH gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho NH. Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Việc đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau: Một là: dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập (chủ động, tự tin, tích cực, tự học) nhằm củng cố 7
  8. kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn Hai là: chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo. Ba là: tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, nhóm, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung (học sinh thực sự là trung tâm của hoạt động học). Bốn là: chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót. Kết quả vận dụng sáng tạo các PPDH và phương tiện dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, người ta đã rút ra một phương châm về dạy học rất hay như sau: “Tôi nghe, tôi sẽ quên. Tôi nhìn, tôi sẽ nhớ. Tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Có nghĩa là, trong mỗi giờ học, nếu giáo viên biết kết hợp vận dụng linh hoạt các phương pháp, sử dụng các học cụ trực quan và học sinh được thực hành ứng dụng thì giờ học đó chắc chắn sẽ có hiệu quả tốt. Cách dạy học này thực ra không mới và không khó nhưng nhiều giáo viên lại không thường xuyên vận dụng. Cùng với đổi mới PPDH, việc đổi mới hình thức dạy học rất quan trọng. Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật cho học sinh, tổ chức dạy học thực địa, gắn với di sản văn hóa, sản xuất kinh doanh... Ngoài việc tổ chức hoạt động học trên lớp, cần coi trọng việc giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh, nhất là những nội dung vận dụng, tìm tòi mở rộng (chủ yếu cho đối tượng học sinh khá, 8
  9. giỏi), khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục- thể thao 3. Một số định hướng đổi mới PPDH 3.1. Cải tiến các PPDH truyền thống Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các PPDH này, người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp sử dụng các PPDH mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề. 3.2. Kết hợp đa dạng các PPDH Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của PPDH, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các PPDH tích cực khác. 9
  10. 3.3. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các PPDH sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối. 3.4. Chú trọng các PPDH đặc thù bộ môn PPDH có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các PPDH đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ: Thí nghiệm là một PPDH đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các PPDH như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học 3.5. Khơi dậy hứng thú học tập cho học sinh (tạo động lực, hưng phấn cho NH) - Chúng ta thường nói nhiều đến đổi mới PPDH và trong lí luận dạy học cũng nêu tên nhiều PPDH “cũ”, “mới”. Tất cả các PPDH có thể gom lại thành 3 nhóm PPDH chính đó là nhóm PPDH dùng lời (thuyết trình); nhóm PPDH thông qua tổ chức hoạt động học cho HS; nhóm PPDH thông qua thực hành, trải nghiệm. Tính “tích cực” của PPDH phụ thuộc vào kỹ thuật phát huy “tính tích cực” của NH. Tên PPDH không nói được nhiều nội dung của PPDH đó mà kỹ thuật triển khai chúng mới là vấn đề cần được trang bị cho GV. Việc sử dụng bất cứ PPDH nào hay muốn huy động sự tham gia của NH trước tiên GV phải tạo được hứng thú cho NH, xuất phát từ nhu cầu học thực sự. - Muốn NH có hứng thú học tập người dạy phải là người biết truyền cảm hứng. Một nhà sư phạm nước ngoài có nêu một quan điểm về dạy học hiệu quả 10
  11. đại ý là: Học chỉ có thể hiệu quả khi NH tìm thấy niềm vui, sự hào hứng khi học và khi họ chìm đắm trong hoạt động nhận thức, sự đam mê học tập sẽ phát triển. Nhà sư phạm người Mỹ có nói: Người thầy trung bình chỉ biết NÓI; người thầy giỏi biết GIẢI THÍCH, biết MINH HỌA; người thầy vĩ đại biết TRUYỀN CẢM HỨNG”. Với những điều nêu trên cho chúng ta thấy muốn NH (HS) học có hiệu quả người thầy không chỉ biết giải thích, biết minh họa mà còn phải biết truyền cảm hứng cho NH. Truyền cảm hứng trong dạy học là một việc cần nhưng không dễ vì đây vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. - Trước hết chúng ta cần nhận thức được: Muốn NH có hứng thú phải giúp họ tìm được niềm vui khi tiếp nhận thông tin, muốn có niềm vui phải thấy được tính hữu dụng của nội dung học. Cần thiết phải xây dựng ý thức và tạo lập nhu cầu cho người học, từ đó giúp người học xác định đúng mục đích của việc học, xây dựng động cơ học tập và tạo động lực cho NH là nền tảng của hứng phấn trong học tập. Tuy nhiên bài viết này không đi sâu vào nội dung xây dựng động cơ và tạo động lực cho NH mà chỉ đi sâu vào kỹ thuật và nghệ thuật tạo hứng thú cho NH trên lớp học, đối với một bài học. Cần nhận thức được rằng truyền cảm hứng cũng có yếu tố khoa học và tính nghệ thuật và phải có những kỹ thuật hợp lí. - Nói một cách ngắn gọn: bộ máy học là toàn bộ giác quan và hệ thần kinh của con người trong đó bộ “vi xử lí” chính là bộ não. Bộ não với tư cách là một bộ phận sinh học của một con người về cơ bản có cấu tạo giống nhau ở những người khác nhau; tuy nhiên khi nó trở thành bộ máy học thì nó khác nhau ở những con người khác nhau vì nó liên quan đến sự hưng phấn học và kiến thức sẵn có qua trải nghiệm hoặc do tích lũy ở từng con người không hoàn toàn giống nhau. Nếu NH thích học, có hứng thú học, chú ý, tập trung vào vấn đề đang học thì vùng Limbic này sẽ “mở”; ngược lại nó sẽ “đóng”. Nhiệm vụ của người dạy phải “cù” vào Limbic để NH thích học thông qua việc làm cho NH thấy được lợi ích của việc học; khơi gọi niềm vui trong hoạt động nhận thức và cỗ vũ sự tham gia tối đa từ NH khi tiếp nhận nội dung dạy học. Với những vấn đề nêu trên muốn tạo hứng thú cho NH phải hiểu cơ chế của việc học và đó là khía cạnh khoa học của việc tạo hứng thú cho việc học ở NH và đòi hỏi GV phải có kỹ thuật tạo hứng thú. 11
  12. * Kỹ thuật và nghệ thuật tạo hứng thú cho NH - Kích thích tính tò mò nhận thức và chỉ cho NH lợi ích của nội dung học: Việc đầu tiên là kích thích sự “tò mò nhận thức” thông qua tạo cho NH trạng thái “muốn biết” nội dung học; để NH “muốn biết” thì trước hết GV phải chỉ ra được lợi ích của nội dung mà NH tiếp nhận. NH phần lớn không phải đi học cho vui mà học để đạt mục đích nào đó. Ở một nền GD NH học để lấy bằng cấp thì mục đích học vì điểm, vì đỗ đạt không phải là ít; tuy nhiên cũng có nhiều NH biết tiếp nhận nội dung học là để sử dụng học cao hơn, cho cuộc sống và cho làm việc GV cần chỉ cho họ mục đích của kiến thức đang học để NH có cảm hứng học. Mâu thuẫn trong nhận thức cũng là tác nhân gây “tò mò nhận thức” vì vậy GV nên biết đem đến cho NH một số góc nhìn về một sự vật, hiện tượng liên quan đến nội dung học để HS tranh luận, phản biện từ đó chỉ cho họ “góc nhìn chính xác” để nhận thức nội dung này - Biết giao tiếp sư phạm hiệu quả, tạo được bầu không khí thân thiện trong lớp học: Có câu chuyện như sau: một học sinh năm học trước còn là học sinh có kết quả cao về môn lịch sử, sang năm học này kết quả môn học đó quá kém. Khi được hỏi nguyên nhân em đó trả lời: “năm ngoái em thích cô dạy môn lịch sử vì cô tâm lí và quan tâm đến em nên em thích học môn lịch sử vì vậy kết quả cao; năm học này em không có cảm tình với cô dạy môn lịch sử vì cô này không thể hiện sự quan tâm và khi học em cảm thấy nặng nề nên em không thích học vì vậy kết quả môn học đó đi xuống”. Câu chuyện trên cho thấy đôi khi học sinh thích học môn học do thích người dạy môn học đó và điều đầu tiên tạo hứng phấn cho NH người dạy phải tạo được sự thân thiện, yêu quý từ NH. Giao tiếp sư phạm hiệu quả là phương tiện hữu hiệu cho vấn đề nêu trên. Chúng tôi muốn lưu ý một số nội dung sau: + Hãy nắm bắt thông tin về NH mà mình đang dạy, thông tin có thể là sơ yếu lí lịch, là sở thích, là đặc điểm tính cách và tận dụng cơ hội tiếp xúc để thể hiện tình cảm và sự quan tâm đến HS, đặc biệt những học sinh “cá biệt”. + Thể hiện sự khách quan về tình cảm đối với học sinh. Mặc dù con người là động vật có tình cảm, có tình cảm tích cực hay tiêu cực với HS là điều khó 12
  13. tránh khỏi. Tuy nhiên GV phải biết kiểm soát được cách cư xử với học sinh của mình để HS không có cảm giác phân biệt đối xử. + Sử dụng phương tiện giao tiếp hiệu quả. Ngôn ngữ và cử chỉ của GV ảnh hưởng lên cảm tình của HS với GV. Những GV biết sử dụng ngôn ngữ hợp lí với giọng nói biểu cảm và ánh mắt thân thiện, cử chỉ thể hiện sự mô phạm sẽ có tác động tốt; những GV thẳng thắn vạch ra các điểm sai của HS với lời lẽ nhẹ nhàng, từ tốn và đầy sự thân mật thông qua đối thoại vui vẻ sẽ được các em đón nhận. Đặc biệt không được thể hiện tính thiên vị trong giao tiếp sư phạm; hãy thể hiện bằng lời nói hay cử chỉ cho mọi học sinh trong lớp thấy tất cả các HS đều được ghi nhận giá trị và tôn trọng. - Sử dụng các PPDH và các KTDH phát huy tính tích cực của NH: Sự hưng phấn của NH có thể diễn biến theo hình sin, sau một thời gian khoảng10 phút nếu không có thao tác “kích”, hưng phấn có thể đi xuống và nếu xuống quá ngưỡng thì khó duy trì sự hưng thú học tập nên phải liên tục kích thích thông qua các thủ thuật sau: + Nên “công não” thông qua các câu hỏi điền khuyết hay tìm ô chữ với nội dung liên quan đến đơn vị kiến thức cần chuyển tải. + Nên tạo dựng những câu chuyện pha chút hài hước thể hiện một khía cạnh nội dung đang chuyển tải, cần sử dụng kỹ thuật, nghệ thuật kể chuyện có hình tượng, có ngữ điệu để cuốn hút NH. Trong dạy học lựa chọn PPDH tích cực để triển khai hoạt động học tập của NH là một cách tạo hứng thú học tập hữu hiệu. Hiện nay PPDH dựa trên vấn đề hay phương pháp “bàn tay nặn bột” thường dùng để lôi cuốn NH vào hoạt động học và là PPDH kích thích được hưng phấn học của NH nếu GV biết tổ chức tốt. Ví dụ với PP “bàn tay nặn bột” nếu GV biết chọn vấn đề, chủ đề (tất nhiên liên quan đến nội dung học) để HS hay nhóm HS tự xây dựng thành các câu hỏi nội dung rồi sau đó GV tích hợp thành một số câu hỏi mở để các nhóm đề ra phương án, giả thuyết và thực nghiệm tìm tòi câu trả lời và cùng GV chọn phương án giải quyết tối ưu. Với pha tiến hành thực nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu cần giao nhiệm vụ cho từng nhóm hoạt động “tự do sáng tạo” với sự “can thiệp hợp lí” của GV. Với hoạt động như vậy thời gian hưng phấn sẽ được duy trì lâu 13
  14. hơn nếu GV biết xúc tác đúng lúc, đúng chỗ. Ngay cả khi hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm kết thúc, ở công đoạn HS trình bày những khám phá hay trình bày minh chứng thuyết phục GV cũng phải là người đạo diễn sao cho sự tham gia là tối đa cho cho các thành viên trong nhóm. GV biết đặt ra các câu hỏi dẫn dắt hay gợi ý minh họa gắn với trải nghiệm của NH để lôi kéo HS tham gia tranh luận ôn hòa..Với cách tổ chức lớp học như vậy, chắc chắn lớp học sẽ có hưng phấn và HS học sẽ có kết quả. * Muốn phát huy tính tích cực của NH cần có nghệ thuật - Như trên chúng ta đã trao đổi, muốn NH có hứng thú tham gia phải tạo được niềm vui khi tiếp nhận thông tin, muốn có niềm vui họ phải thấy được tính hữu dụng của nội dung học. Nếu trong lớp NH tự nguyện giơ tay xung phong phát biểu điều đó chứng tỏ họ có hứng thú học tập; tuy nhiên số này không nhiều. Chúng ta nói nhiều đến đổi mới phương pháp, bản chất của đổi mới phương pháp là chuyển từ dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều, áp đặt sang dạy học huy động được sự tham gia tích cực vào bài học của NH NH từ đó tạo tính tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh nội dung học ở NH. Chúng tôi có điều tra NH về mức độ tham gia của họ đối với bài học, câu trả lời của hơn 50% NH được hỏi là “không tích cực lắm”. Vài con số nếu trên cho thấy việc huy động sự tham gia của NH vào bài học cần có kỹ thuật và nghệ thuật để lôi kéo được đa số NH tham gia tích cực vào bài học . - Sự tham gia của NH vào bài học rất đa dạng, nó có thể là nêu thắc mắc khi tiếp nhận kiến thức mới, có thể là sự trao đổi, tranh luận, phản biện ý kiến khi học và cũng có thể là làm việc theo nhóm để giải quyết các nhiệm vụ học tập mà GV giao cho.v.v..Tuy nhiên, không phải GV nào cũng huy động được sự tham gia tích cực và có hiệu quả ở NH vì huy động sự tham gia của NH vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. - Yếu tố khoa học của sự tham gia của NH: Tư duy có quy trình của nó. Tư duy bắt đầu xuất hiện khi đối mặt với một vấn đề nhận thức mà NH phải giải quyết, phải chiếm lĩnh. Sự tham gia tích cực của NH vào quá trình tiếp nhận nội dung học sẽ tạo điều kiện cho NH có cơ hội so sánh, liên tưởng mà trong lí luận dạy học gọi là “đồng hóa” kiến thức; trên cơ sở đồng hóa kiến thức đó quá trình liên kết kiến thức cũ và mới dẫn nhập sẽ được thực hiện và kiến thức mới được 14
  15. định danh và lưu trữ (trong LLDH dùng thuật ngũ “điều ứng”) [1] . Sự tham gia càng tích cực, chủ động quá trình “đồng hóa-điều ứng” thực hiện càng hiệu quả. Gợi ý một số nghệ thuật: - Muốn NH tham gia hiệu quả GV phải biết giao nhiệm vụ rõ ràng cho NH. Cùng một vấn đề học tập có thể nhìn nhận ở nhiều góc cạnh và mỗi góc nhìn có thể phát hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề. Hãy trao cho NH quyền lựa chọn góc nhìn và trợ giúp họ xây dựng và kiểm nghiệm giả thuyết về nội dung vấn đề của bài học. Để trên lớp NH có thể tham gia, GV nên yêu cầu và hướng dẫn NH tự học ở nhà và tìm minh chứng cho kết luận nội dung đang nghiên cứu có liên quan với kiến thức chung đã học hoặc liên quan đến trải nghiệm của NH trong cuộc sống hàng ngày. Việc này làm tốt nhất là trước và sau buổi học để khi học trên lớp NH có thể chủ động tham gia. Nên vận dụng một số gameshow trên truyền hình vào dạy học, ví dụ, bắt đầu bằng câu hỏi có tính “trò chơi” như tìm ô chữ, chọn phương án đúng (chiếc nón kỳ diệu!) để khởi động lớp học và khuyến khích mọi cánh tay giơ lên; trường hợp không có cánh tay nào giơ lên phải có gợi ý hợp lí để tạo thân thiện; trong trường hợp nhiều cánh tay giơ lên hãy ưu tiên người ít giơ tay trước đó. - Muốn NH tham gia tích cực GV phải biết phản hồi sự tham gia với nghệ thuật sư phạm cao. Việc đầu tiên là phải biết nêu vấn đề, đặt câu hỏi có tính kích thích sự tò mò nhận thức, phù hợp với nhiệm vụ học tập của bài học và nhiệm vụ đã giao về nhà trước buổi học. Sau màn khởi động bằng cách vận dụng gameshow trên truyền hình như trên đã đề cập; cần cho NH tham gia vào các bài tập và giải quyết vấn đề. Hãy khuyến khích NH thắc mắc, nêu câu hỏi trước và trong quá trình tham gia. Hãy cho NH thể hiện quan điểm (cái TÔI) của mình về những đợn vị kiến thức trong nội dung bài học. Hãy tạo bầu không khí thân thiện cỗ vũ mọi học sinh trong lớp học khi huy động sự tham gia của NH. Một nghệ thuật quan trọng trong huy động sự tham gia là cách phản hồi các ý kiến phát biểu của NH và cách nhận xét kết quả giải quyết vấn đề của NH. Mọi cánh tay giơ lên trong lớp học đều là những cánh tay đẹp và điều đầu tiên là ghi nhận (có nhiều cách ghi nhận tế nhị để cỗ vũ cánh tay giơ lên). Câu trả lời “đúng ý GV” thường được GV khen hết cỡ! Câu trả lời sai ý GV hay sai sách thường bị GV dùng chữ “sai” để trả lời NH sau khi NH phát biểu. Cả hai cách ứng xử như 15
  16. trên đều thiếu tính nghệ thuật. Câu trả lời đúng hiển nhiên phải khảng định đúng nhưng nên dùng từ sao cho người phát biểu và những HS khác thấy được sự cỗ vũ khi tham gia. Kinh nghiệm cá nhân tôi khi HS trả lời đúng “đáp án” hiển nhiên có khen nhưng không dừng lại ở đó mà phải có thêm câu bình luận: đó là đáp án được sách viết, còn có ý kiến nào khác không (Vì cuộc sống phong phú hơn sách hiều!). Với những em trả lời “sai đáp án” câu nhẹ nhàng nhất là “chưa đúng” hay “đây là một góc nhìn nhưng chưa chính xác” để không đụng đến cái “TÔI” và làm thui chột tính tích cực tham gia của NH. Sự tích cực và thụ động có hiệu ứng lây lan. Nên tạo sự cạnh tranh ôn hòa thông qua tưởng thưởng ví dụ một cánh tay giơ lên với câu trả lời đúng được 2 ngôi sao, phát biểu chính xác một phần, 1 ngôi sao, chưa đúng vẫn được ½ ngôi sao vì tinh thần xung phong! và phong cấp bậc úy đến tướng cho NH vào cuối buổi học, cuối tuần học, cuối kỳ học Trong một lớp học sôi nổi được cỗ vũ sự tham gia sẽ huy động được nhiều học sinh tham gia, ngược lại rất khó huy động học sinh tham gia. Sự nhiệt huyết của GV, khả năng truyền cảm hứng của GV rất quan trọng trong sự huy động tham gia của NH vào bài học. - Cần thiết phải tạo áp lực nhẹ cho NH thông qua thủ thuật “bỏ bom” vào bất cứ NH nào trong lớp hay thủ thuật thông qua “khoảng lặng trước cơn bão” (hỏi xong phải lướt nhìn toàn bộ lớp và chú ý hơn vào NH ít phát biểu và chờ đợi các cánh tay giơ lên hoặc “bỏ bom” theo ý đồ của GV !); thời gian này phải đủ cho một suy nghĩ lóe lên (khoảng 15-20 giây). Trong trường hợp không có ai phát biểu GV cần khơi gợi các ý kiến khác nhau về một vấn đề rồi yêu cầu NH phân tích các ý kiến đó với các tưởng thưởng do GV đặt ra (tặng ngôi sao; trao cờ chiến thắng..). Cạnh tranh này có thể là cá nhân hoặc theo nhóm. - Kích thích sự tham gia thông qua các câu hỏi thiếu thông tin (điền khuyết, câu hỏi nhiều lựa chọn). Tạo chút cạnh tranh ôn hòa và sử dụng thủ thuật tạo áp lực nhẹ như trên trình bày là nghệ thuật huy động sự tham gia. Cạnh tranh ôn hòa cũng có thể thông qua kiểu trả lời theo chuỗi như sau: đặt một câu hỏi và yêu cầu một NH trả lời sau đó cho cả lớp biểu quyết về sự chính xác của câu trả lời của học sinh đó với 3 lựa chọn: chính xác, chính xác một phần, chưa chính xác. Sau đó chọn NH trong số NH biểu quyết chính xác một phần trả lời tiếp theo. Với các NH ít phát biểu thì một lần phát biểu và phát biểu đúng được 16
  17. tưởng thưởng nhiều hơn, với câu trả lời sai cần làm cho NH này không “rút lui vào hậu cứ” bằng cử chỉ thân thiện và lái câu trả lời của em đó vào hướng đúng để em biết nên suy nghĩ theo hướng nào và dùng gợi ý đó cho việc khích lệ em tiếp theo trả lời. Trong một vài trường hợp phải sử dùng “câu hỏi mồi” là câu hỏi rất dễ trả lời cho những em ngại phát biểu hoặc học lực kém hơn các bạn Với những câu hỏi mồi này thường có nhiều NH tự nguyện giơ tay; nhưng với ý đồ trước GV mời NH không giơ tay phát biểu; thậm chí nếu NH đó trả lời sai vẫn “cảm ơn bạn đã nêu ý kiến của mình” và GV có thể nhắc lại câu hỏi tạo cơ hội cho những cánh tay đã giơ lên trước đó trả lời. Tạo áp lực nhẹ và tăng dần đến lúc tạo thói quen giơ tay cho mọi NH trong lớp là một nghệ thuật huy động sự tham gia của NH để duy trì được trạng thái này GV luôn cổ vũ các câu trả lời với tư tưởng “gặn đục, khơi trong” ở những câu trả lời chưa vừa ý và luôn ghi nhận giá trị của của tinh thần tham gia. Không tiết kiệm các câu nói “cảm ơn bạn vì đã trả lời, thầy biết điều đó không dễ dàng .” khi huy động sự tham gia của NH. Hãy truyền thông điệp đó cho cả lớp để tránh các chỉ trích, bình luận tiêu cực từ các học sinh khác. Khi nhận xét ý kiến phát biểu cần chỉ rõ chỗ đúng và chỗ chưa đúng trong các câu trả lời của NH với tinh thần khuyến khích. - Để duy trì được sự tập trung và tham gia tích cực trong lớp học, GV phải biết đặt các câu hỏi dẫn dắt. Loại câu hỏi kiến thức hướng vào cái gì; ở đâu, khi nào chủ yếu là câu hỏi mở đầu và câu hỏi dành cho NH năng lực học tập hạn chế. Ngay cả khi NH này không trả lời được câu hỏi một cách chính xác hoặc đầy đủ hãy nán lại với họ thông qua tương tác với họ để thể hiện tôn trọng “cái TÔI” nhằm cỗ vũ những NH có học lực còn hạn chế. Các câu hỏi có tính suy luận hướng vào vì sao, như thế nào và tại sao điều đó đúng giúp đào sâu và phát triển tư duy phản biện, các câu hỏi này thường được NH có năng lực học tập tốt yêu thích trả lời. Theo tài liệu [2] chia loại câu hỏi suy luận ra làm 2 loại nhỏ : Các câu hỏi suy luận khái quát và các câu chất vấn tỉ mỉ. Cho NH chiêm nghiệm câu trả lời của mình với liên hệ kiến thức đã học ở môn học khác hay trong trải nghiệm ở cuộc sống hàng ngày; sự tham gia trên lớp nếu kéo dài được ra ngoài lớp thì hiệu quả dạy học sẽ được nâng lên. - Muốn duy trì sự tham gia của NH, logic tiến hành bài học cần được chuẩn bị kỹ và áp dụng nhịp độ thích hợp. Tiến trình thực hiện một bài học theo 17
  18. logic sư phạm trong lí luận dạy học gọi là các bước lên lớp; ở đây chúng tôi chỉ lưu ý tiến trình hợp lí cho việc huy động sự tham gia của NH vào bài học. Với phần cung cấp nội dung kiến thức trọng tâm, cốt lõi của bài cần sử dụng nhiều hơn PPDH nêu và giải quyết vấn đề và các câu hỏi đi theo là các câu hỏi suy luận. Nội dung cho các hoạt động giúp NH xây dựng và chiêm nghiệm giả thuyết về kiến thức được GV cung cấp thì tốt nhất là chuẩn bị các “phiếu học tập” để NH làm việc theo nhóm. Với hoạt động giúp NH thực hành và làm sâu sắc thêm hiểu biết của mình về kiến thức mới thì tốt nhất là tổ chức cho NH trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài lớp học. Logic chuyển tiếp với các nhịp độ thích hợp phải được GV cần nhắc để không làm đứt quãng sự chú ý và hứng khởi của NH. Kinh nghiệm chỉ ra rằng một tiến độ rời rạc sẽ ảnh hưởng đến sự tham gia của NH. - Một kỹ thuật huy động sự tham gia khá hữu dụng là thu hút sự tham gia vào cuộc tranh luận thân thiện (chúng tôi nhấn mạnh chữ thân thiện) . Muốn NH tham gia vào “tranh luận thân thiện” GV phải biết chọn vấn đề có thể có nhiều ý kiến khác nhau và điều khiển khéo léo cách tranh luận. Ví dụ, khi tìm nguyên nhân của một hiện tượng có thể có nhiều ý kiến khác nhau GV sẽ sắp đặt để hỏi ý kiến một số NH cụ thể về vấn đề này, sau đó gọi hai NH có ý kiến rất khác nhau về vấn đề này và cho NH xung phong đứng về phía các NH vừa phát biểu (nhóm bên phải và nhóm bên trái), những người không về phe nào đứng ở giữa. Tiếp đến cho đại diện của nhóm bên phải và nhóm bên trái chứng minh ý kiến của nhóm mình và cho nhóm giữa có thể di chuyển sang một trong 2 nhóm tranh luận nếu bị thuyết phục bởi ý kiến của nhóm đó. Trong quá trình tranh luận GV cung cấp thêm những gợi ý, bổ sung thêm thông tin để duy trì sự tranh luận ôn hòa. Cuộc tranh luận kết thúc khi nhóm giữa đã chuyển sang hết nhóm bên trái và bên phải. - Một nội dung nhỏ cũng cần lưu ý khi huy động sự tham gia của NH vào bài học là duy trì năng lượng cho các em trong quá trình thực hiện bài học nếu thấy lớp rơi vào trạng thái quá trầm lắng, mất tập trung. Hãy cho cả lớp đứng dậy và cùng vươn vai một vài phút và cho NH vận động thông qua hoạt động vui như biểu diễn bán kính (dang cánh tay trái); đường kính (dang 2 tay) và chu 18
  19. vi của một đường tròn (vòng 2 tay lên đầu) hay làm động tác đồng hồ 9h (tay trái giơ ngang, tay phải vươn thẳng) và đồng hồ 3h (đảo tay).v..v. - Mối quan hệ tương tác giữa GV và NH là rất quan trọng trong việc huy động sự tham gia của NH trong lớp. Với hành vi giao tiếp thân thiện qua ánh mắt có hệ số tác động cỡ 20%; với hành vi điệu bộ có hệ số tác động cỡ 10%; với hành vi cười có hệ số tác động cỡ 10%; với hành vi khen ngợi có hệ số tác động cỡ 30%; với hành vi liên quan đến tần suất trao đổi có hệ số tác động cỡ 10%; với hành vi liên quan đến thời gian trao đổi có hệ số tác động cỡ 10% còn lại là tạo bởi bầu không khí lớp. Muốn huy động sự tham gia của NH vào bài học GV phải là người thân thiện, biết truyền cảm hứng cho NH và đặc biệt là phải có kỹ thuật và nghệ thuật huy động sự tham gia Trong hóa học có các nguyên tố gọi là khí trơ và nói chung khí trơ không tham gia vào phản ứng hóa học. Trong dạy học nếu NH không muốn học, không thích học thì dù GV có sử dụng PPDH nào cũng khó có hiệu quả trong dạy học. Việc tạo được hứng khởi học cho NH là điều kiện tiên quyết cho thành công trong dạy học. Một số lưu ý: Muốn dạy học hiệu quả, việc đầu tiên GV phải trả lời được câu hỏi dạy cái này để làm gì và giúp HS trả lời câu hỏi học cái này để làm gì và để dạy học không nhồi nhét kiến thức và đạt được mục tiêu dạy học hướng vào năng lực NH trong toàn bộ nội dung mà sách viết cần đặt cho các phần nội dung các trọng số ưu tiên trong quá trình tổ chức lĩnh hội trên lớp. Một gợi ý có thể tham khảo được mô tả theo sơ đồ dưới đây: Toàn bộ nội dung của một môn học hay một bài dạy học có thể mô tả là toàn bộ “hình chữ nhật”. N3 N1 N2 Sơ đồ. Trọng số nội dung theo mục tiêu dạy học 19
  20. - Vòng tròn 1 trong cùng mô tả những nội dung cốt lõi của môn/bài học (ký hiệu N1) mà NH Phải biết - phải chiếm lĩnh thì mục tiêu năng lực của NH đối với môn/bài học mới đạt được ; - Vòng tròn 2 tiếp theo mô tả những nội dung gắn với thực tế của môn/bài học (ký hiệu N2) mà NH Nên biết,nên chiếm lĩnh thì mục tiêu môn/bài học đạt được MT năng lực tốt hơn; - Phần còn lại của “hình chữ nhật” phía ngoài 2 vòng tròn nêu trên (N3) mô tả những nội dung mở rộng hay ít quan trọng so với MT đối với đối tượng NH cụ thể về môn/bài học này và có thể coi là phần nội dung mà NH Có thể biết (không nắm được cũng không ảnh hưởng lắm đến việc thực hiện được mục tiêu của môn/bài học); Việc xác định nội dung Phải biết (N1), Nên biết (N2), Có thể biết (N3) nó giúp cho ta xác định phần cứng cốt lõi hay phần mềm, phần bắt buộc (cho tất cả học sinh), nội dung N2, N3 theo đối tượng học sinh. Tuy nhiên, đối với một giờ dạy học điều này giúp người dạy phân bổ thời lượng hợp lí cũng như đặt đúng trọng số ưu tiên cho kế hoạch dạy học (trên lớp thông qua dạy N1 để dạy cách tư duy và N2 để dạy cách vận dụng). Cũng cần lưu ý rằng, thời gian tiếp xúc giữa GV và HS trên lớp không nhiều nên GV cần lựa chọn cách thức tổ chức dạy học thích hợp với trọng số nội dung theo mục tiêu đã xác định cho đối tượng dạy học cụ thể (sách giáo khoa viết cho cả nước, trong khi đó trình độ nhận thức và điều kiện dạy học ở mỗi vùng miền không hoàn toàn giống nhau). Cần lưu ý rằng nội dung dạy học không chỉ là nội dung học được trên lớp hay nội dung mà thầy đã truyền đạt cho NH mà nó còn bao hàm cả nội dung NH được thảo luận, tự học, tự tìm kiếm và xử lí. Hình ảnh “cây kiến thức” (một biến thể của sơ đồ tư duy) giúp các giáo viên liên tưởng khi tổ chức quá trình dạy học trên lớp là : Nếu coi toàn bộ nội dung của một bài học (hay học phần) là một cây cổ thụ thì phần thân, rễ, cành lớn GV nên tổ chức cho NH " Vẽ " được ngay trên lớp; còn phần nhánh, lá nên chỉ cho họ tiếp tục " Vẽ " và hoàn thiện " Cây kiến thức " ở nhà hoặc cho tìm hiểu thêm ở thực tế ở cuộc sống xung quanh NH (về kỹ thuật triển khai PPDH này mà ta tạm gọi là “phương pháp cây kiến thức” có thể tham khảo ở sách “kỹ thuật dạy học trong học chế tín chỉ”[của Đặng Xuân Hải]. Cũng cần lưu ý rằng khi chiếm lĩnh nội dung học NH chiếm lĩnh cả phương pháp nhận 20