Tài liệu BDTX - Di sản văn hóa Phú Thọ và việc ứng xử với di sản văn hóa trong trường trung học

doc 40 trang thuyhan 04/02/2026 840
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu BDTX - Di sản văn hóa Phú Thọ và việc ứng xử với di sản văn hóa trong trường trung học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctai_lieu_bdtx_di_san_van_hoa_phu_tho_va_viec_ung_xu_voi_di_s.doc

Nội dung tài liệu: Tài liệu BDTX - Di sản văn hóa Phú Thọ và việc ứng xử với di sản văn hóa trong trường trung học

  1. UBND TỈNH PHÚ THỌ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÀI LIỆU DI SẢN VĂN HÓA PHÚ THỌ VÀ VIỆC ỨNG XỬ VỚI DI SẢN VĂN HÓA TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên nội dung II dành cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học tỉnh Phú Thọ) Tài liệu lưu hành nội bộ Phú Thọ, tháng 7 năm 2014 1
  2. Lời giới thiệu Phú Thọ là tỉnh thuộc miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc. Từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tạo ra những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc và những đặc trưng văn hóa của miền Đất Tổ - Miền di sản. Cùng với chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc, truyền thống hiếu học trên quê hương đất Tổ Vua Hùng đã tồn tại và thăng hoa, đóng góp to lớn vào sự nghiệp trồng người của quê hương, đất nước. Do đó, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện gắn với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa bản sắc dân tộc trong trường trung học là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Từ năm học 2013-2014, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc bồi dường thường xuyên cho giáo viên; căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ đã triển khai thực hiện Chương trình bồi dưỡng thường xuyên nội dung II với chủ đề “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông” góp phần giáo dục truyền thống, tình yêu quê hương, đất nước cho cán bộ quản lí và giáo viên. Năm học 2014-2015, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình bồi dưỡng thường xuyên nội dung II với chủ đề “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông” và bổ sung tài liệu “Di sản văn hóa Phú Thọ và việc ứng xử với di sản văn hóa trong trường trung học” góp phần trang bị cho cán bộ quản lí, giáo viên trung học những hiểu biết về di sản văn hóa Phú Thọ và phương pháp tiếp cận, ứng xử với di sản văn hóa góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hoá của quê hương, đất nước. 2
  3. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Căn cứ xây dựng tài liệu Luật Di sản văn hóa năm 2011 và Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Thông tư 26/2012/TT-BGDĐT ngày10 tháng 7 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên đối với giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên; Văn bản số 2389/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 13/5/2014 của Bộ GD&ĐT về việc “Hướng dẫn triển khai công tác BDTX giáo viên năm học 2014-2015”; Hướng dẫn liên ngành số 73/HD - BGD&ĐT-BVHTTDL ngày 16 tháng 01 năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX”; Chương trình hành động số 382/CTr-UBND ngày 13 tháng 2 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp – Hát Xoan Phú Thọ (giai đoạn 2012-2015); Tài liệu “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông” – Tài liệu BDTX năm học 2013-2014 của Sở GD&ĐT; Dựa trên điều kiện thực tiễn của địa phương Phú Thọ với nhiều di sản văn hóa có giá trị “Miền di sản” và những yêu cầu của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông hiện nay; Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên GV mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên năm học 2014-2015 của Sở Giáo dục và Đào tạo; 2. Mục đích, yêu cầu - Giúp cán bộ quản lí, giáo viên trung học học tập, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật kiến thức, bổ sung những hiểu biết về di sản văn hóa và việc 3
  4. ứng xử, sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường trung học; - Góp phần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, giáo dục truyền thống, tình yêu quê hương, đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường; - Yêu cầu cán bộ quản lí, giáo viên trung học tích cực nghiên cứu, học tập sáng tạo để lĩnh hội nội dung và vận dụng phù hợp, hiệu quả trong điều kiện thực tế của đơn vị. 3. Đối tượng bồi dưỡng - Cán bộ quản lí, giáo viên THCS; - Cán bộ quản lí, giáo viên THPT. 4. Hình thức bồi dưỡng Bồi dưỡng thường xuyên theo hình thức tập trung và tự bồi dưỡng 5. Thời lượng Chương trình BDTX nội dung II dành cho giáo viên trung học năm học 2014-2015 gồm 30 tiết. Trong đó kết hợp tài liệu “Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông” năm học 2013- 2014 và tài liệu “Di sản văn hóa Phú Thọ và việc ứng xử với di sản văn hóa trong trường trung học” năm học 2014-2015. 4
  5. I. DI SẢN VĂN HÓA TỈNH PHÚ THỌ 1. Giới thiệu về di sản văn hóa Phú Thọ 1.1. Khái quát về tỉnh Phú Thọ - Phú Thọ là tỉnh thuộc miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc). Phía Đông giáp Hà Nội, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang. - Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác. Là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc. Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi Tuyên Quang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùng với các tỉnh bạn trong cả nước và quốc tế. Hiện nay, tuyến đường cao tốc Nội bài, Lào Cai đang trong giai đoạn hoàn thiện và đi vào sử dụng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà. - Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, các huyện: Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập. Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh. - Phú Thọ là tỉnh miền núi trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành các tiểu vùng, có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại. Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 0C, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm. 1.2. Phú Thọ một “Miền di sản” - Phú Thọ - đất phát tích của dân tộc Việt Nam, từ thời đại các Vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã tạo ra những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. 5
  6. - Hiện nay, Phú Thọ có 1372 di tích lịch sử văn hóa gồm 161 di tích khảo cổ học, 262 chùa, còn lại là di tích kiến trúc nghệ thuật hoặc dấu vết kiến trúc và các di tích lịch sử cách mạng kháng chiến. Trong đó, khu di tích lịch sử Đền Hùng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, 72 di tích được xếp hạng quốc gia, 226 di tích lịch sử và di tích kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng cấp tỉnh và 260 lễ hội (223 lễ hội dân gian, 5 lễ hội tôn giáo, 32 lễ hội cách mạng) đang được duy trì thường xuyên. - Đặc biệt, Phú Thọ có 03 di sản văn hóa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đó là Ca trù được công nhận năm 2009 (Phú Thọ là 1 trong 14 tỉnh được ghi danh: Phú Thọ, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình, thành phố Hồ Chí Minh); hát Xoan (năm 2011) và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (năm 2012). - Di sản văn hoá Phú Thọ mang bản sắc văn hoá dân tộc gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước từ thời Hùng Vương với trên 200 di tích lịch sử, di tích cách mạng kháng chiến, các danh lam thắng cảnh đều có khả năng khai thác phục vụ cho tham quan du lịch, tiêu biểu như: Khu di tích Đền Hùng (Việt Trì), đền Mẫu Âu Cơ, Hùng Lô, Đào Xá, chùa Phúc Khánh; các khu di chỉ: Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun Các di tích kháng chiến: chiến khu Hiền Lương (Hạ Hoà), chiến khu Vạn Thắng (Cẩm Khê), tượng đài kháng chiến sông Lô (Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cổ Tiết (Tam Nông), Chu Hoá (Lâm Thao), đầm Ao Châu, Ao Giời, Suối Tiên, khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (33.687 ha, trong đó 15.000 ha rừng nguyên sinh), vùng nước khoáng nóng Thanh Thuỷ - Phú Thọ có nhiều làng nghề truyền thống: Xã Sai Nga huyện Cẩm Khê có nghề truyền thống là may nón lá. Đây là loại nón làm từ lá cọ. Ngoài ra còn có làng ủ ấm Sơn Vi (huyện Lâm Thao), làng làm bún Hùng Lô (xã Hùng Lô - TP. Việt Trì) đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống. Xã Tùng Khê huyện Cẩm Khê có nghề truyền thống là đan thúng 100% người dân trong xã đều biết đan thúng. Xã Lâm Lợi, huyện Hạ Hòa có lang nghề làm bánh cuốn nóng gia truyền nổi tiếng, hiện nay trong xã có khoảng 300 cửa hàng kinh doanh ở khắp các tỉnh phía Bắc với khoảng 700 lao động trong xã. 6
  7. - Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn: lễ hội Đền Hùng, hội phết (Hiền Quan), hội làng Đào Xá, Sơn Vi ; nhiều làn điệu dân ca, xoan ghẹo, nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết - huyền thoại về thời dựng nước, nhiều truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu tính nhân văn, nhiều làng nghề truyền thống mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc Hồng Tổng hợp các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng (Theo thống kê của Sở VHTT&DL tính đến tháng 6/2014): STT Huyện, thị, thành Số di tích đã xếp hạng Cấp tỉnh Quốc gia Quốc gia ĐB Tổng số 1 Huyện Cẩm Khê 33 5 38 2 Huyện Lâm Thao 28 17 45 3 Huyện Thanh Thủy 28 5 33 4 Thị xã Phú Thọ 11 4 15 5 Huyện Đoan Hùng 9 2 11 6 Huyện Phù Ninh 11 5 16 7 Huyện Thanh Ba 16 2 18 8 Huyện Hạ Hòa 12 7 19 9 Huyện Tam Nông 27 11 38 10 Huyện Thanh Sơn 8 1 9 11 Thành phố Việt Trì 39 13 01 53 12 Huyện Tân Sơn 1 0 1 13 Huyện Yên Lập 3 0 3 Tổng 226 72 01 299 Các di tích được xếp hạng quốc gia gồm: STT Tªn di tÝch §Þa chØ 1 Chïa Kh¸nh Long X· Ph­¬ng X¸, CÈm Khª, Phó Thä 2 §×nh Thæ Khèi X· Ph­¬ng X¸, CÈm Khª, Phó Thä 3 C¨n cø Tiªn §éng X· Tiªn L­¬ng, CÈm Khª, Phó Thä 4 ChiÕn khu V¹n Th¾ng X· §ång L­¬ng, CÈm Khª, Phó Thä 7
  8. 5 §×nh Ph­¬ng X¸ X· Ph­¬ng X¸, CÈm Khª, Phó Thä §Þa ®iÓm chiÕn 6 th¾ng Ch©n Méng X· Ch©n Méng, §oan Hïng, Phó Thä -Tr¹m Th¶n 7 ChiÕn th¾ng S«ng L« TT §oan Hïng, §oan Hïng, Phó Thä 8 §Òn MÉu ¢u C¬ X· HiÒn L­¬ng, H¹ Hoµ, Phó Thä 9 §Òn NghÌ, ®×nh §«ng X· V¨n Lang, H¹ Hoµ, Phó Thä 10 ChiÕn khu HiÒn L­¬ng X· HiÒn L­¬ng, H¹ Hoµ, Phó Thä 11 Chiến khu 10 §¹i Ph¹m X· §¹i Ph¹m, H¹ Hoµ, Phó Thä §Þa ®iÓm CM chiến khu 10 Hà 12 X· Hµ L­¬ng, H¹ Hoµ, Phó Thä Lương §Þa ®iÓm CM chiến khu 10 Ấm 13 X· Êm H¹, H¹ Hoµ, Phó Thä Hạ §Þa ®iÓm CM chiến khu 10 Gia 14 X· Gia §iÒn, H¹ Hoµ, Phó Thä điền 15 Chïa Phæ quang X· Xu©n Lòng, L©m Thao,Phó Thä 16 §×nh Do NghÜa X· S¬n Vi, L©m Thao, Phó Thä 17 §×nh B×nh ChÝnh X· Cao M¹i, L©m Thao, Phó Thä 18 §×nh §«ng ChÊn X· Cao M¹i, L©m Thao, Phó Thä 19 §×nh S¬n Vi X· S¬n Vi, L©m Thao, Phó Thä 20 §×nh H÷u Bæ X· Kinh KÖ, L©m Thao, Phó Thä 21 §Òn Xa Léc X· Tø X·, L©m Thao, Phó Thä 22 §×nh Cao X¸ X· Cao X¸, L©m Thao, Phó Thä 23 Chïa Phóc ¢n X· S¬n Vi, L©m Thao, Phó Thä 24 §Òn H÷u Bæ h¹ X· Kinh KÖ, L©m Thao, Phó Thä 25 Chïa VÜnh Ninh TT L©m Thao, L©m Thao, Phó Thä 26 §Òn Lêi X· VÜnh L¹i, L©m Thao, Phó Thä 27 Chïa S¬n L«i X· Cao X¸, L©m Thao, Phó Thä 28 DT KCH S¬n Vi X· S¬n Vi, L©m Thao, Phó Thä 29 DT KCH Gß Mun X· Tø X·, L©m Thao, Phó Thä 30 DT KCH Phïng Nguyªn X· S¬n Vi, L©m Thao, Phó Thä Côm DT ®×nh, ®Òn, chïa S¬n 31 X· S¬n D­¬ng, L©m Thao, Phó Thä D­¬ng 8
  9. 32 §×nh Tranh X· VÜnh Phó, Phï Ninh, Phó Thä 33 §×nh Nh­îng Bé X· VÜnh Phó, Phï Ninh, Phó Thä 34 Chïa Viªn S¬n X· VÜnh Phó, Phï Ninh, Phó Thä 35 Chïa Hoµng Long X· An §¹o, Phï Ninh, Phó Thä 36 Di chØ kh¶o cæ xãm RÒn X· Gia Thanh, Phï Ninh, Phó Thä 37 §×nh Quang Hóc X· Quang Hóc,Tam N«ng, Phó Thä 38 §Òn Quèc TÕ X· DÞ Nậu,Tam N«ng, Phó Thä 39 §Òn Nhµ Bµ (§Òn MÉu) TT H­ng Ho¸, Tam n«ng, Phó Thä 40 §Òn HiÒn Quan X· HiÒn Quan, Tam N«ng, Phó Thä 41 Chïa Phóc Kh¸nh X· HiÒn Quan, Tam N«ng, Phó Thä Di tích lưu niệm Chủ tịch 42 X· Cæ TiÕt, Tam N«ng, Phó Thä Hồ Chí Minh 43 §×nh Cæ TiÕt X· Cæ TiÕt, Tam N«ng, Phó Thä 44 §Òn, chïa Nam C­êng X· Thanh Uyªn, Tam N«ng, Phó Thä 45 §×nh Tù C­êng X· Tam C­êng, Tam N«ng, Phó Thä 46 §×nh, ®Òn, miÕu H¹ X· H­¬ng Nha,Tam N«ng, Phó Thä 47 Chïa Phóc Th¸nh X· H­¬ng Nén, Tam N«ng, Phó Thä 48 §×nh, ®Òn M¹o Phæ X· L­¬ng Lç, Thanh Ba, Phó Thä 49 §Òn Du YÕn X· ChÝ Tiªn, Thanh Ba, Phó Thä 50 §×nh Th¹ch Kho¸n X· Th¹ch Kho¸n, Thanh S¬n, Phó Thä 51 §×nh §µo X¸ X· §µo X¸, Thanh Thuû, Phó Thä 52 ChiÕn th¾ng Tu Vò X· Tu Vò, Thanh Thuy, Phó Thä 53 §Òn §µo X¸ X· §µo X¸, Thanh Thuû, Phó Thä 54 §Òn L¨ng S­¬ng X· Trung NghÜa, Thanh Thuû, Phó Thä 55 §×nh H¹ B× Trung X· Xu©n Léc, Thanh Thuû, Phó Thä 56 §×nh L©u Th­îng X· Tr­ng V­¬ng, ViÖt Tr×, Phó Thä 57 §×nh B¶o §µ Ph­êng D÷u L©u, ViÖt Tr×, Phó Thä 58 §Òn Th­îng X· Thuþ V©n, ViÖt Tr×, Phó Thä 59 Chïa Th­îng L©m X· Thuþ V©n, ViÖt Tr×, Phó Thä 60 §×nh H­¬ng TrÇm Ph­êng D÷u L©u, ViÖt Tr×, Phó Thä 61 §×nh An Th¸i X· Ph­îng L©u, ViÖt Tr×, Phó Thä 62 Di tích lưu niệm Chủ tịch X· Chu Ho¸, Việt Trì, Phó Thä 9
  10. Hồ Chí Minh 63 §×nh Cæ TÝch X· Hy C­¬ng, Việt trì, Phó Thä 64 §×nh Hïng L« X· Hïng L«, Phï Ninh, Phó Thä 65 DT kh¶o cæ lµng C¶ P. Thä S¬n, ViÖt Tr×, Phó Thä 66 §×nh, miÕu Ph­îng An X· Ph­îng L©u, ViÖt Tr×, Phó Thä 67 §Òn V©n Lu«ng X· V©n Phó, ViÖt Tr×, Phó Thä 68 §Òn, Chïa Tam Giang P.B¹ch H¹c, ViÖt Tr×, Phó Thä 69 §Òn Trï MËt X· V¨n Lung, TX Phó Thä, Phó Thä 70 Chïa Kh¸nh Long X· Hµ Léc, TX Phú Thä, Phó Thä 71 Chïa Bång Lai X· Hµ Th¹ch, TX Phó Thä, tØnh Phó Thä 72 §×nh H¹ M¹o X· Thanh Minh, TX Phó Thä, Phó Thä 1.3. Hát Xoan Phú Thọ và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Những di sản được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại * Hát Xoan Phú Thọ: - Theo sử sách ghi lại thì hát Xoan đã tồn tại hơn 2.000 năm, là di sản văn hóa dân gian hết sức quý báu của vùng Đất Tổ. Trên chặng đường dài đó, loại hình nghệ thuật này đã được nhiều người có vị thế và uy tín trong xã hội, nhiều văn nhân thi sĩ và nhân dân lưu truyền, tạo điều kiện để tồn tại và phát triển. - Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các Vua Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. Vào mùa xuân: 10
  11. các phường Xoan ở tỉnh Phú Thọ lần lượt khai xuân ở đình, miếu ngay từ mùng một Tết đầu năm. Buổi sáng các ngày Tết, phường Xoan làng nào hát ở đình làng ấy, tới chiều tối, các phường Xoan lại họp lại với nhau lần lượt hát ở đình, miếu như sau: mùng một, hát ở đình Cả và miếu Cấm làng An Thái (xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì); mùng hai, hát ở đình Đơi làng Kim Đới; mùng ba, hát ở miếu Lãi Lèn làng Phù Đức; mùng bốn, hát ở đình Thét làng Thét (xã Kim Đức, thành phố Việt Trì). Vào ngày mùng 5, thường hát ở Đền Hùng, xã Hy Cương, Lâm Thao (nay là thành phố Việt Trì). Thời điểm hát được quy định tại một điểm hát nhất định, mỗi “phường” chọn một vị trí cửa đình - Địa bàn của các làn điệu Xoan cổ đều được bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa bàn trung tâm bộ Văn Lang thời các Vua Hùng dựng nước. Gốc của hát Xoan ở vùng Phú Thọ. Bốn phường Xoan cổ là An Thái, Phù Đức, Kim Đới và Thét nằm ở 2 xã Kim Đức và Phượng Lâu (Phú Thọ). Ngoài ra, hát Xoan còn được biểu diễn ở An Đạo, Tiên Du, Tử Đà (Phù Ninh), Dữu Lâu, Nông Trang (Việt Trì), Tây Cốc (Đoan Hùng), Hương Nộn (Tam Nông), Hữu Bổ - Kinh Kệ, Tứ Xã (Lâm Thao) - Có 3 hình thức hát Xoan: Hát thờ cúng các Vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức khỏe; hát lễ hội để nam nữ giao duyên. Diễn viên của các phường hát Xoan được gọi là Đào, Kép, Cô Đào, Ả Đào, Nhà Trò. Trang phục của nam là áo the dài và bộ quần áo trắng, đầu mang khăn xếp. Trang phục của nữ (Cô Đào) là chiếc áo tứ thân, một cặp áo cánh tơ tằm, một khăn vuông thâm, một khăn vấn bằng vải nâu tím, đôi thắt lưng màu và yếm trắng hoặc màu hồng. Nhạc cụ của hát Xoan là một, hai chiếc trống và bộ phách làm bằng tre. - Hát Xoan là loại hình biểu diễn với đầy đủ các dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp. Về sắc thái âm nhạc, nhạc Xoan vừa có những giọng nghiêm trang, thong thả vừa có những điệu dồn đuổi khỏe mạnh, lại có những giọng duyên dáng, trữ tình. - Nội dung của hát Xoan nói lên ước vọng của nhân dân lao động muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn: “phong thuận vũ hòa, thóc lúa đề đa, thịnh nhân thịnh vật, an cư lập nghiệp”; nội dung trữ tình, giao duyên với nhiều màu sắc, 11
  12. âm điệu, với nỗi nhớ nhung khắc khoải, cái buồn man mác, cái e ấp tình tứ của các đôi trai gái. Hát Xoan còn phản ánh khá sâu sắc một hình thái kinh tế xã hội và ý thức xã hội, phản ánh cảnh lao động, vui chơi cũng như tâm tư, tình cảm của nhân dân. - Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca. Các tiết mục múa hát thường theo thứ tự nhất định. Mở đầu là 4 tiết mục có tính nghi thức, mang nội dung khấn nguyện, chúc tụng, xen mô tả sản xuất. Đây là những bài ca cổ, chủ yếu hát nói hoặc ngâm; theo thứ tự: giáo trống, giáo pháo, thơ nhang, đóng đám. Tiếp theo là phần hát cách (còn gọi là quả cách). Trong phần này, ông Trùm hoặc một kép chính giở sách ngân nga 14 bài thơ nôm dài với giọng phụ họa của các cô đào đứng ở phía sau. Mười bốn quả cách trong hát Xoan là những áng thơ khuyết danh với các đề tài khác nhau như: mô tả lao động, sinh hoạt ở nông thôn, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, kể các tích chuyện xưa. Sau phần hát cách đến các tiết mục có tính chất dân gian với nội dung đậm nét trữ tình, mang dáng dấp của các bài dân ca, ví giao duyên, hát trống quân. Mỗi tiết mục nối tiếp nhau ở đây thường gắn với những động tác và đội hình múa, hoặc lối diễn mang tính chất hoạt cảnh như: hát gái, bỏ bộ, xin huê, đố huê, đố chữ, gài huê, hát đúm, đánh cá... Sức sống của hát Xoan chính là ở sự kết hợp của loại hình hát lễ nghi với hát giao duyên, tồn tại lâu dài và được nhiều thế hệ yêu thích. - Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng Đất Tổ Hùng Vương. Nguồn gốc của Hát Xoan gắn với những giai thoại của thời đại Vua Hùng dựng nước. Các làng xoan gốc đều là những ngôi làng cổ nằm trên địa bàn trung tâm nước Văn Lang, vì vậy hát Xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ của thời đại bình minh dựng nước...Hát Xoan được vinh danh góp phần tôn vinh các giá trị, đạo lý của Việt Nam, khẳng định vị thế dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Hát Xoan với sức sống mạnh liệt đã vượt qua không gian văn hóa Phú Thọ đến với cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cả nhân loại trên toàn thế giới. - Ngày 24/11/2011, UNESCO đã công nhận hát Xoan - Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Hát Xoan là loại 12
  13. hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần với hình thức nghệ thuật đa yếu tố, gồm có ca - vũ - nhạc, thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ. Hồ sơ hát Xoan Phú Thọ đã hội đủ các yêu cầu cần thiết của UNESCO để được công nhận là: + Tính giá trị, tính cộng đồng trong việc sáng tạo và truyền dạy từ đời này qua đời khác; + Sức sống mạnh mẽ của hát Xoan cũng như các cam kết bảo vệ nghệ thuật này không bị biến mất trong đời sống hiện đại. + Đây là một số ít những hồ sơ nhận được toàn bộ sự ủng hộ của hội đồng tư vấn khoa học xét duyệt sơ khảo trước đó. - Hát Xoan được lưu truyền lại qua nhiều hình thức: truyền khẩu, truyền ngôn, truyền nghề. Từ xưa, việc học hát Xoan được tổ chức vào tháng chạp, mọi người tập trung vào buổi tối ở nhà ông Trùm (người đứng đầu phường Xoan) để học các làn điệu theo lối truyền khẩu, ông Trùm hát và mọi người hát theo, ông Trùm hoặc các Cô Đào (cũ) múa và mọi người múa theo. Khi lớp học bế mạc cũng là lúc mọi người chuẩn bị cho cái tết cổ truyền và hát vào mùa xuân đến. Ngày nay, hát Xoan vẫn được truyền khẩu từ người này sang nười khác trong các gia đình, làng hát, phường hát, đặc biệt được tổ chức dạy hát có bài bản: Người hướng dẫn, nhạc cụ, trang phục, kỹ thuật. Hát Xoan được đưa vào giảng dạy trong các trường học, đây là điều kiện tốt nhất để bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị của hát Xoan Phú Thọ đến muôn đời sau. * Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương bắt nguồn từ thời đại các Vua Hùng với niềm tin cả dân tộc có cùng chung giống nòi “con Rồng cháu Tiên”, cùng chung một nguồn cội (Tổ); đồng thời thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Khởi nguồn từ Tín Ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt đã thờ cúng Vua Hùng là Thủy Tổ khai sinh dân tộc, đất nước. Ý thức Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng đã thấm vào máu thịt của cộng đồng người Việt, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hình tượng Vua Hùng đã gắn chặt với hồn thiêng sông núi đất Việt. 13
  14. - Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân - con trai của Kinh Dương Vương Lộc Tục lấy nàng Âu Cơ - con gái Vua Đế Lai rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai. Sau đó, năm mươi người con theo mẹ lên núi, năm mươi người con theo cha xuống biển lập nghiệp. Người con cả theo mẹ lên vùng đất Phong Châu (Phú Thọ) lập ra nước Văn Lang và được tôn làm Vua Hùng. Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, được cai trị bởi 18 đời vua. Các Vua Hùng đã dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng để thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như thờ thần lúa, thần mặt trời để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở. - Để ghi nhớ công lao to lớn của các Vua Hùng, nhân dân đã lập đền thờ tưởng niệm (khu di tích lịch sử Đền Hùng) mà trung tâm là núi Nghĩa Lĩnh và lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày Giỗ Tổ. Từ trung tâm thờ tự đầu tiên này, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương dần lan tỏa, có sức sống lâu bền từ đời này qua đời khác, từ đồng bằng lên miền núi, từ Bắc vào Nam, từ trong nước ra nước ngoài. Đất nước có lúc thịnh lúc suy, có những năm tháng bình yên, có lúc bị giặc ngoại xâm thống trị nhưng Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vẫn được các thế hệ duy trì đến tận ngày nay và còn mãi đến muôn đời sau. - Các sử liệu cho thấy Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã phát triển mạnh từ rất lâu trước khi chính thức được vinh danh vào thời Hậu Lê (1428 - 14
  15. 1788). Những triều đại phong kiến đều rất chú trọng và khuyến khích người dân duy trì Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Các triều đình phong kiến: Hậu Lê, Tây Sơn và Nguyễn liên tục sắc phong cho các đền thờ Vua Hùng tại Phú Thọ nghi thức thờ cúng, miễn thuế và cấp ruộng đất tại khu vực xung quanh đền để người dân canh tác, thu hoa lợi và coi sóc đền thờ. - Cho đến nay, Đảng và Nhà nước đều rất quan tâm tới việc thờ cúng các Vua Hùng, cấp kinh phí để tôn tạo không gian thờ cúng, đưa truyền thuyết Hùng Vương vào chương trình giảng dạy để giáo dục thế hệ trẻ. Ngày 02 tháng 4 năm 2007, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ Luật lao động. Theo đó, người lao động được nghỉ lễ ngày Giỗ Tổ Hùng Vương - ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, để tham gia, tổ chức các hoạt động tế lễ hướng về cội nguồn dân tộc. - Di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ riêng ở tỉnh Phú Thọ mà trải khắp đất nước Việt Nam với 1.417 di tích thờ cúng trong cả nước. Ngoài ra, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài xác định "con cháu ở đâu thì tổ tiên ông bà ở đó" nên họ vẫn thờ cúng Vua Hùng. Chỉ riêng trên địa bàn tỉnh Phú thọ có 326 di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương. Đền Hùng là trung tâm thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lớn nhất và lâu đời nhất trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam. - Theo các nhà nghiên cứu, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không phải một tôn giáo mà chính là biểu trưng của lòng thành kính, lòng biết ơn, tri ân công đức các Vua Hùng là những người có công khai quốc, sinh dân. Thông qua nghi lễ thờ cúng nhằm xác lập mối liên hệ dòng tộc giữa các Vua Hùng với mọi thế hệ trong cộng đồng người Việt từ quá khứ, hiện tại và mai sau. Mối liên hệ ấy là sợi dây liên kết tinh thần giữa thời đại Hùng Vương và thời đại Hồ Chí Minh, phản ánh quan niệm sống của người Việt Nam: Trọng tình nghĩa, thủy chung, sự biết ơn, tình yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. - Từ hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trên địa bàn Phú Thọ nói riêng và cả nước nói chung, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã là một đặc trưng trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Việt Nam và ăn sâu vào trong máu thịt của từng người con mang trong mình dòng máu Lạc - Hồng với truyền 15
  16. thuyết cùng sinh ra từ một bọc trăm trứng nặng sâu tình nghĩa “đồng bào”. Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người dân Việt Nam, Vua Hùng là vị Tổ đã có công dựng nên quốc gia Văn Lang - Nhà nước đầu tiên, sơ khai của dân tộc Việt Nam. Vua Hùng chính là nguồn gốc tổ tiên chung của cả dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có một vị trí rất quan trọng trong đời sống tâm linh và tình cảm của các thế hệ người dân Việt Nam, vừa thiêng liêng, vừa cụ thể, vừa là điểm tựa tinh thần, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau dựng nước và giữ nước mà Bác Hồ đã tổng kết và khái quát thành chân lý của dân tộc và của thời đại: “Hùng Vương là người sáng lập ra nước ta, đây là tổ tiên của dân tộc ta. Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. - Biểu hiện rõ nhất của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 Âm lịch hằng năm tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng, quần thể di tích Đền Hùng gồm Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đền Giếng, Đền Mẫu Âu Cơ, Đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân trên núi Nghĩa Lĩnh, (xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt. Lễ giỗ Tổ Hùng Vương cũng được tổ chức trên khắp mọi miền của đất nước Việt Nam. - Để chuẩn bị cho mỗi kỳ lễ hội và gìn giữ truyền thống lâu dài, hàng năm, Ban khánh tiết và Đội tế vẫn giảng dạy, tập luyện các nghi thức thờ cúng cho những người kế tục. Cách đọc văn tế được chủ tế năm trước dạy cho chủ tế năm sau; việc giảng dạy kỹ thuật chế biến các loại lễ vật cho thấy việc bảo tồn các truyền thống được thực hiện một cách cẩn thận; người dân được hướng dẫn chu đáo cách dâng lễ vật và cách phải làm như thế nào, nói gì trong lễ cúng. Một số làng còn giữ và truyền lại tri thức về cách chọn giống vật nuôi để làm lễ vật và kỹ thuật chế biến các đặc sản vào dịp lễ hội. Thế hệ trẻ và những người cao tuổi ngày nay vẫn đang quan tâm đến việc dạy và học những hình thức diễn xướng dân gian liên quan đến Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Việc thực hành Tín ngưỡng này có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. - Truyền thống hàng năm cứ mỗi độ "Tết đến, xuân về", bất kể đất nước ta, dân tộc ta ở trong hoàn cảnh nào, dù chiến tranh, hay thời bình, dù nghèo khó 16
  17. hay giàu có thì trên ngọn núi Nghĩa Lĩnh linh thiêng - Vua Hùng vẫn giang rộng vòng tay đón chào hàng triệu, hàng triệu cháu con từ khắp mọi miền đất nước, trên khắp năm châu bốn biển như những dòng máu nhỏ chảy về tim. Trên núi Nghĩa Lĩnh ngút ngàn linh khí, trong sắc trời xanh cao lồng lộng của ngày Giỗ Tổ "mùng mười tháng ba" hàng năm ta như thấy có ánh hào quang rực rỡ cuốn theo trên những sải cánh chim Lạc. Chính sự linh thiêng đó thổi hồn cho câu ca đi vào lịch sử: Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Khắp miền truyền mãi câu ca, Nước non, vẫn nước non nhà ngàn năm! - Ngày nay, trên con đường đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới, hơn lúc nào hết, dân tộc ta cần phải tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá quý báu của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trong đời sống đương đại để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, giữ vững chủ quyền và độc lập của quốc gia, dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng hàng năm đã, đang và sẽ được tổ chức một cách trọng thể, trang nghiêm vì mục tiêu: "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". - Tín Ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ngày nay đã trở thành bản sắc văn hoá đặc biệt Việt Nam. Đó chính là sợi chỉ đỏ tâm linh, là động lực tinh thần gắn kết toàn dân tộc thành cây một cội, thành con một nhà, làm nên sức mạnh của truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam đang trên đà đổi mới và phát triển hôm nay. Đó cũng là nền tảng tâm linh vững chắc để củng cố và phát triển phẩm chất, nhân cách của mỗi con người Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, thương nòi cho các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau, mở rộng không gian văn hóa, không chỉ ở Phú Thọ, trong nước và cả thế giới biết đến. - Ngày 6/12/2012, tổ chức UNESCO công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với những yếu tố thuộc đời sống tâm linh của người Việt Nam đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay, thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương 17
  18. chính là thờ Quốc Tổ. Đây là hiện tượng văn hóa độc đáo không phải dân tộc nào cũng có. - Cùng chung tay để bảo tồn di sản văn hóa Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, những năm qua, tỉnh Phú Thọ đã tăng cường đầu tư bảo tồn, tu bổ nhiều di tích tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương trên địa bàn tỉnh. Khu di tích lịch sử Đền Hùng đã được đầu tư khang trang với các khu chức năng như rừng quốc gia Đền Hùng, khu trung tâm lễ hội, khu tháp Hùng Vương, làng du lịch văn hóa Hùng Vương, khu nhà văn hóa Hùng Vương, khu trồng cây lưu niệm phía Bắc và phía Nam. - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo đưa giáo dục di sản vào trường học trong đó có hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, để giáo dục cho thế hệ trẻ tình yêu quê hương đất nước. Tổ chức các nhóm truyền dạy, nghi lễ, trò diễn, các thực hành xã hội của tín ngưỡng thờ Hùng Vương của người Việt ở Phú Thọ; gắn di sản với các tour, tuyến du lịch trải nghiệm văn hóa tâm linh vùng Đất Tổ Hùng Vương và các Di tích lịch sử thờ Vua Hùng và các nhân vật thời Hùng Vương trong cả nước. - Bên cạnh đó, tỉnh Phú Thọ đã phát huy sự hỗ trợ cộng đồng trong việc tổ chức các nhóm truyền dạy, nghi lễ, trò diễn, các thực hành xã hội của Tín ngưỡng thờ Hùng Vương; phối hợp với Cục Di sản Văn hóa, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Vụ Giáo dục Trung học, Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cải tiến nâng cao chất lượng giờ dạy về các truyền thuyết liên quan đến Tín ngưỡng thờ Hùng Vương của nhân dân Phú Thọ trong một số môn học ở trường phổ thông. 2. Những đặc trưng cơ bản của di sản văn hóa Phú Thọ - Di sản văn hóa Phú Thọ là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng các dân tộc trên quê hương đất Tổ, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Đó là quá trình đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động, xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Từ trong gian khó ấy, nhân dân Phú Thọ càng thấm thía với giá trị của lao động và hy sinh xương máu, của sức mạnh tiềm ẩn trong nền văn hoá dân tộc - văn hoá cội nguồn; càng thiết tha yêu quê hương đất nước, sống 18
  19. với người có thủy có chung; càng thấm thía biết ơn công lao dựng nước của các Vua Hùng. Hay nói đúng hơn, ý thức cộng đồng dân tộc được hun đúc và bồi đắp từ thời Hùng Vương dựng nước được lưu truyền qua các thế hệ, hình thành từ trong gia đình, thân tộc, dòng họ, láng giềng, hàng xóm rồi cả nước. - Di sản văn hóa Phú Thọ mang giá trị lịch sử thiêng liêng, tâm linh và cội nguồn có tính truyền thống, tính kế thừa và phát triển. Từ truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, thời Hùng Vương dựng nước, những dấu tích kinh đô Văn Lang xưa của buổi bình minh dựng nước đến thời đại Hồ Chí Minh và những chiến thắng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của quân dân Phú Thọ cũng như những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. - Lễ hội dân gian cổ truyền ở Phú Thọ - vùng đất cội nguồn dân tộc rất phong phú, đa dạng, khá nhiều lễ hội có nguồn gốc từ xa xưa. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, lễ hội dân gian cổ truyền ở vùng đất Tổ giữ một vai trò rất đặc biệt trong kho tàng lễ hội dân gian Việt Nam, nó mang đậm bản sắc dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn, biểu thị tinh thần đại đoàn kết cộng đồng các dân tộc. Lễ hội ở đây phần lớn là hội làng, song có nhiều lễ hội mang tầm ảnh hưởng toàn quốc và thế giới như lễ hội Đền Hùng - được kết tinh từ những nét đẹp của các hội làng vùng đất Tổ Vua Hùng. - Phú Thọ được UNESCO công nhận và vinh danh ba di sản văn hóa phi vật thể, được cả nước và bạn bè quốc tế biết đến: Ca Trù, Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Điều này là vinh dự, tự hào, đồng thời cũng là trách nhiệm lớn lao đối với chính quyền và nhân dân tỉnh nhà trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa đó. - Đặc trưng nổi bật của di sản văn hóa Phú Thọ là có Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương mang đạo lý văn hóa “Uống nước nhớ nguồn”, thờ cúng vua Hùng đã trở thành tín ngưỡng văn hóa đặc trưng, mang tính bản địa sâu sắc của người Việt. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương không chỉ đơn thuần là ngày con cháu bốn phương hội tụ thắp hương cúng giỗ Tổ tiên mà còn là ngày giao lưu văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trong đó có thờ cúng Hùng Vương của người Việt Nam là một biểu tượng văn hóa đặc biệt, tiêu biểu của tất cả cộng đồng các dân tộc được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, là ý thức hướng về cội nguồn, là sự kết nối cộng đồng. Giỗ Tổ Hùng Vương 19
  20. là sự khẳng định tín ngưỡng bản sắc văn hóa đặc trưng của người Việt và trở thành động lực tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam. - Di sản văn hóa Phú Thọ là bức tranh đa dạng, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Phú Thọ và là một bộ phận của di sản văn hóa Việt Nam. Di sản văn hóa Phú Thọ có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, đồng thời cũng là một nguồn “tài nguyên” quý giá để khai thác và sử dụng trong dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông, đó là thế mạnh mà không phải địa phương nào cũng có được * Câu hỏi hệ thống Câu 1. Giới thiệu khái quát về tỉnh Phú Thọ. Tại sao nói Phú Thọ là “Miền di sản”? Câu 2. Nêu những hiểu biết của anh (chị) về hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ. Theo anh (chị), chúng ta phải làm gì để giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa trên quê hương Phú Thọ? Câu 3. Di sản văn hóa Phú Thọ có những đặc trưng cơ bản nào? Tại sao lại có những đặc trưng đó? II. NHÀ TRƯỜNG ỨNG XỬ VỚI DI SẢN VĂN HÓA 1. Vai trò của nhà trường trong việc giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa - Nhà trường là chủ thể quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn việc khai thác và sử dụng di sản văn hóa trong trường học tới cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh: - Hỗ trợ, đầu tư về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị để giáo viên, học sinh tiếp cận và sử dụng di sản văn hóa trong nghiên cứu, học tập; góp phần nâng cao nhận thức cho HS về di sản văn hoá, ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị di sản văn hoá của quê hương, đất nước. - Kết nối, hướng đến các thiết chế văn hóa và loại hình đa dạng là những bảo tàng, di sản vật thể (di tích văn hóa, thiên nhiên, lịch sử, cách mạng, kháng chiến, v.v.) di sản thiên nhiên, di sản phi vật thể, nhất là những di sản, nhân chứng sống ở xung quanh và gần gũi với nhà trường, góp phần sáng tạo, làm 20