SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi

doc 26 trang thuyhan 28/09/2026 90
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_song_cho_tre_4_5_tuoi.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi

  1. PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài “Trẻ em như búp trên cành Biết ăn biết ngủ biết học hành là ngoan” Trẻ em là hạnh phúc của mỗi gia đình là tương lai của đất nước. Là lớp người kế thừa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ là trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của mỗi gia đình. Việc chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này. Bác Hồ nói “ Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa”. Sản phẩm của giáo dục là con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ.Trong những năm gần đây, giáo dục luôn không ngừng đổi mới về hình thức, nội dung và phương pháp tổ chức dạy học cho trẻ. Giáo dục kỹ năng sống là nội dung được rất nhiều người quan tâm. Đặc biệt giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là một nội dung và nhiệm vụ quan trọng của cấp học mầm non. Ở lứa tuổi mẫu giáo, kỹ năng sống chiếm một vị trí hết sức quan trọng nó góp phần giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách con người, giúp trẻ học tập, lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội để trẻ vận dụng trong cuộc sống sau này. Trong xã hội hiện nay, kiến thức của con người ngày càng phát triển và mỡ rộng, từng cá nhân nếu không được bồi dưỡng, cập nhật thông tin thường xuyên sẽ trở thành lạc hậu. Bên cạnh đó, yêu cầu về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng cao. Để hình thành và có được các kỹ năng cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày trước tiên giáo viên phải có kiến thức, kỹ năng về chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo viên phải có kiến thức để tổ chức các hoạt động cho trẻ được trải nghiệm, để trẻ được cuốn hút vào các hoạt động đa dạng khác nhau cùng với các bạn trong nhóm lớp. Tạo ra nhiều cơ hội để trẻ tương tác, giao tiếp với nhau trong lớp như: Thảo luận, trao đổi ý kiến, giải quyết xung đột, chia sẽ kinh nghiệm, xử lý tình huống, trỉa nghiệm những vai trò khác nhau Tạo ra nhiều cơ hội để trẻ được tham gia và cảm thây mình là một thành viên trong nhóm chơi và trẻ có cơ hội để phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin, góp phần thúc đẩy sự phát triển, tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ. Trong thực tế đứng lớp bán trú nhiều năm, tôi thấy trẻ trước khi đến trường chưa có những thói quen và kĩ năng thực hành vệ sinh cá nhân, tự phục vụ bản thân, chưa có hành vi văn minh trong giao tiếp, chưa biết xử lý tình huống và chưa biết ứng xử khi giao tiếp . Là một giáo viên mầm non hằng ngày tiếp xúc với trẻ, tôi luôn trăn trở và tìm mọi cách để có thể hình thành cho 1
  2. trẻ những kĩ năng sống cần thiết cho trẻ. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi”. 2. Tính cấp thiết của vấn đề Năm học này tôi được phân công đứng lớp 4-5 tuổi hầu hết các cháu là con nông dân nên việc quan tâm đến con em còn nhiều hạn chế và nguyên nhân chủ yếu là do các bậc cha mẹ thiếu kinh nghiệm trong giáo dục trẻ, ít gần gữi với trẻ hoặc nuông chiều trẻ qua mức gây tác động đến kỹ năng sống của trẻ như: Trẻ không biết chào hỏi khi khách đến nhà hoặc đi về nhà không thưa người lớn trong gia đình, ăn cơm không biết mời và nhận quà không biết cảm ơn.Bên cạnh đó còn có các cháu được gia đình luôn nuông chiều thái quá. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho con em ở lứa tuổi mẫu giáo, nên thường giao phó cho hết giáo viên. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, ra vào lớp tự nhiên, hay nói leo, trả lời không trọn câu hay một số cháu rất ít nới và rụt rè trong giao tiếp. Môi trường sống của trẻ ở gia đình và moi trường sống, học tập vui chơi của trẻ ở trường là hai nơi mà trẻ luôn được tiếp cận. Nhưng lại trái ngược nhau qúa nhiều cho nên với tình hình như vậy, là một giáo viên Mầm non tôi mạnh dạn đưa ra một số biện phápdạy kỹ năng sống cho trẻ nhằm phát huy nâng cao tính tích cực, năng động, sáng tạo, mạnh dạn tự tin trong mọi hoạt động và mọi hoàn cảnh của trẻ nhằm củng cố, rèn luyện cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản thông qua các hoạt động học, chơi, hoạt động ăn, ngủ của trẻ nhằm thúc đẩy, nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường nói riêng và nâng cao chất lượng đổi mới giáo dục nói chung. Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết để giúp trẻ khám phá thế giới tâm hồn một cách có định hướng, khiến trẻ biết quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống làm nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên năm lĩnh vực: Thể chất, tình cảm kỹ năng xã hội, thẫm mỹ, nhận thức, ngôn ngữ. Từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống hòa nhập với thế giới xung quanh. Học kỹ năng sống để bắt đầu tương lai cho trẻ giúp các bé tự tin khẳng định bản thân, biết cách tự bảo vệ mình cũng như cách ứng phó với những tình huống bất trắc trong cuộc sống. PHẦN II: NỘI DUNG I.Thực trạng của vấn đề Năm học 2020 - 2021 được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo nhỡ với số lượng là 39 cháu, lớp có 2 giáo viên. Bước đầu thực hiện đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi” bản thân tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 1. Thuận lợi: 2
  3. - Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, sát sao với công tác chuyên môn luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, các phương tiện dạy học. - Hàng năm, bản thân tôi cũng được nhà trường tạo điều kiện tham gia học tập chuyên môn, dự giờ các chuyên đề do trường và nghành tổ chức - Trẻ của lớp tôi tương đối ngoan, có nề nếp trong các hoạt động, mạnh dạn ham học hỏi và thích khám phá. Mặt khác đa số trẻ đã được học qua lớp nhà trẻ và 3 tuổi nên đã có kiến thức và kỹ năng nhất định. - Phụ huynh của lớp tôi luôn quan tâm, chia sẻ và ủng hộ nhiệt tình trong các hoạt động của lớp. - Bản thân là một giáo viên có kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, tâm huyết với nghề, nhiệt tình, năng động trong mọi công việc. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. 2. Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi đó bản thân cũng gặp rất nhiều khó khăn: - Do số lượng trẻ trong nhóm lớp còn đông, trẻ được gia đình phục vụ nên nhiều trẻ còn chưa mạnh dạn, tính tự phục vụ bản thân chưa cao và tự giác tham gia vào các hoạt động của trẻ chưa có nền nếp thói quen, kỹ năng sinh hoạt tập thể và kỹ năng sống chưa cao. - Vì số lượng cháu đông trẻ lại hiếu động nên giáo viên còn gặp khó khăn trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. - Đa số phụ huynh chưa nhận thức đúng đắn trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Họ chưa hiểu mục đích và tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Một số phụ huynh chưa quan tâm đến trẻ. - Đa số trẻ chưa có các kỹ năng tự phục vụ mà hầu như trẻ còn hoàn toàn phụ thuộc vào bố mẹ và cô giáo. - Khả năng nhận thức của trẻ trong lớp không đồng đều, mỗi trẻ có một tính cách, một tâm lý khác nhau, đòi hỏi giáo viên phải áp dụng mỗi trẻ một hướng giáo dục khác nhau tuỳ theo tâm lý của từng đứa trẻ. - Một số trẻ còn vụng về, lại có cá tính bướng bỉnh, chưa có thói quen nề nếp tốt, rụt rè, thiếu mạnh dạn khi bày tỏ ý kiến. Khi phát biểu nói không rỏ ràng, trả lời cộc lốc, không trọn câu, khi làm sai hoặc có lỗi với người khác ít nói lời xin lỗi, ai cho gì ít cảm ơn, ít thể hiện các kỹ năng của mình. được, vì thế trẻ không muốn làm cũng như tự tin thể hiện kỹ năng của mình đã có được. 3. Khảo sát đánh giá thực trạng: - Vào đầu năm học 2020 - 2021 việc rèn kỹ năng sống của 39 trẻ lớp 4-5 tuổi. 3
  4. Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ trong lớp tôi nhận thấy kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài như sau: * Về phía trẻ Đạt Không đạt Tỉ lệ Nội dung khảo sát Số trẻ Số trẻ Tỉ lệ % % 1. Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi 25 64,1% 14 35,9% 2. Kỹ năng thích nghi 30 77% 9 23% 3. Kỹ năng mạnh dạn, tự tin 27 69,23% 12 30,76% 4. Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 25 64,1% 14 35,9% 5. Kỹ năng vận động 25 64,1% 14 35,9% 6. Kỹ năng vệ sinh 28 72% 11 28% 7. Kỹ năng hợp tác, hoạt động nhóm 30 77% 9 23% * Về phía giáo viên - Giáo viên còn chưa chú trọng đến việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. - Không mạnh dạn tự tin, chưa nhiệt tình trong việc rèn kỹnăng sống cho trẻ - Chưa phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. *Về phía phụ huynh: - Đa số phụ huynh chưa có nhận thức đúng đắn trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. - Phụ huynh còn nuông chiều trẻ thường làm thay cho trẻ những công việc mà trẻ yêu cầu. - Nhiều phụ huynh chưa có hành vi đúng đắn và lời nói mẫu mực. II. Giải pháp thực hiện 1. Mô tả, phân tích các giải pháp áp dụng sáng kiến: a. Mô tả quá trình thực hiện Để có kết quả tốt trong quá trình rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi bản thân tôi đã áp dụng một số biện pháp sau: * Biện pháp 1: Tìm hiểu những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4 -5 tuổi và xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Để bắt đầu với đề tài này, tôi đã xác định được công việc trước tiên cần phải làm đó là tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4-5 tuổi để từ đó có được cơ sở cho việc đưa ra các nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ phù hợp nhất. 4
  5. Trẻ 4-5 tuổi ngày càng ý thức mình là một thành viên trong tập thể, trẻ rất dễ dàng sử dụng vốn từ vựng để khen, chê hay “chỉnh” những đứa trẻ khác nhằm hướng sự chú ý của người khác vào chúng và thuyết phục các bạn cùng chơi khác chấp nhận ý tưởng mà chúng đưa ra. Trẻ rất thích chơi với trẻ khác, có thể dọa dẫm để dành lại một đứa bạn hoặc để được tham gia vào một nhóm bạn. Vậy nên, đôi khi ta có thể nghe thấy chúng nói với nhau “mình là bạn nhé” hoặc “mình không chơi với bạn đâu”. Trẻ 4-5 tuổi cần nhiều không gian để chơi vì trò chơi nào chúng cũng có thể chơi được, chúng có thể tranh dành đồ chơi thậm chí còn đánh đấm nhau để dành được đồ chơi. Trẻ thích được khám phá những điều mới lạ. Chúng tin vào những gì chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm vào. Ở tuổi này trẻ cũng rất tò mò và hay đặt câu hỏi “Tại sao?” Từ việc tìm hiểu và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ đã giúp tôi xây dựng nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ được dễ dàng và đạt hiệu quả cao hơn. Mục đích của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Từ đây, chúng ta xác định được những nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi bao gồm: - Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. - Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. - Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào? Cô nào?Thích cái gì? Địa chỉ nhà mình ở đâu? - Nhận biết được các ưu điểm cũng như khuyết điểm của bản thân mình - Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cách lắng nghe mọi người và đối đáp. - Nhận biết được hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công cộng. * Biện pháp 2: Tạo môi trường giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Cùng với toàn ngành thực hiện phong trào “ Xây dựng trường học thân thiện- học sinh tích cực”, việc tạo cảnh quan sư phạm trong lớp học cũng là một tiêu chí trong phong trào này. Tôi luôn chú ý tạo cảnh quan sư phạm trong lớp học, đồ dùng đồ chơi được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, từng góc riêng biệt. Mỗi góc tôi đều làm mới để hấp dẫn trẻ, tạo cảm giác thích thú, luôn mong muốn được sắp xếp ngăn nắp. Đặc biệt là góc thiên nhiên được trang trí và trồng nhiều cây cảnh để tạo cho trẻ một không gian xanh, để mỗi ngày trẻ có thể tự mình chăm sóc cây xanh, giáo dục trẻ biết yêu cái đẹp. Qua hoạt động này kích thích trẻ yêu lao động, hình thành thói 5
  6. quen lao động ở trẻ và tạo tình cảm của trẻ với thế giới thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên, cây cối xung quanh mình. - Để tạo cảnh quan sân trường, tôi thường tổ chức hoạt động lao động, chăm sóc vườn cây ở góc thiên nhiên, vườn rau sạch của bé: cho trẻ nhặt lá cây, nhổ cỏ, tưới nước ..để tạo môi trường xanh - sạch - đẹp - Xây dựng góc dân gian trong lớp để hàng ngày trẻ được tiếp cận với các trò chơi dân gian - Đối với giá góc đồ chơi, cuối tuần tôi thường tổ chức cho trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng. Nhờ vậy, qua mỗi lần tổ chức hoạt động vui chơi, trẻ chơi xong biết thu dọn đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp. - Trang trí các mảng tường có nội dung giáo dục kỹ năng sống như: + Treo hình ảnh các bước rửa tay đúng cách ngay ở dưới vòi nước rửa tay của trẻ. + Trong phòng vệ sinh, trang trí các hình ảnh minh họa hành động giáo dục trẻ như: xếp hàng để rửa tay, để rác đúng nơi quy định. - Góc tuyên truyền ở lớp: Tôi sưu tầm các bài tuyên truyền giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trên mạng hay trên báo để dán ở góc tuyên truyền dành cho cha mẹ trẻ để Phụ huynh khi đưa đón trẻ đến lớp có thể đọc. * Biện pháp 3: Học hỏi qua sách báo, truyền hình và internet. Tôi luôn sưu tầm tạo ra một số kỹ năng phong phú làm tài liệu mẫu,tìm phương pháp hướng dẫn trẻ sao cho trẻ hứng thú và dễ hiểu nhất, phù hợp với nhận thức khả năng của trẻ. Tìm đọc tham khảo biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí mầm non. Sách giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non Sách bé thực hành các t.nh huống giáo dục kỹ năng sống dành cho trẻ mẫu giáo. Sách các hoạt động phát triển kĩ năng x. hội dành cho trẻ mẫu giáo. Sách phương pháp giáo dục giá trị kỹ năng sống Xem các chương trình truyền hình như quà tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần thiết đối với trẻ nên trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn của khối tôi chia sẻ với đồng nghiệp về các biện pháp “ rèn kỹ năng sống cho trẻ”. Để dạy trẻ được những kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô giáo phải là tấm gương để trẻ soi vào, để trẻ học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “ Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Những người dạy nội dung giá trị và kỹ năng sống càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng nói, cách ứng sử, cách giải quyết vấn 6
  7. đề Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. * Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động cụ thể hàng ngày Từ việc tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, xác định và xây dựng nội dung giáodục kỹ năng sống cho trẻ tôi tiến hành thực hiện đưa các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động cụ thể như sau : - Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ đích - Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua các hoạt động vui chơi - Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua việc tạo tình huống cụ thể - Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mọi lúc mọi nơi a, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ đích: Trẻ ở lứa tuổi này, học bằng chơi, chơi mà học. Trẻ dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên nên việc lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động học chiếm nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giáo viên cần phải biết khai thác phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống. Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm- xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau. Thông qua hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ với các bạn thông qua hoạt động nhóm. Mặt khác, trẻ cũng tự tin, mạnh dạn khi thể hiện khả năng của mình cũng như giới thiệu về bản thân, gia đình mình ....trước cô giáo và các bạn trong lớp. Ví dụ 1: Khi tổ chức hoạt động giáo dục âm nhạc thông qua trò chơi âm nhạc “Hát theo tranh” cô yêu cầu trẻ chơi theo 3 đội, khi cô đưa ra bức tranh trẻ sẽ phải cùng nhau thảo luận để tìm ra bài hát phù hợp với nội dung trong bức tranh của cô và cả đội sẽ cùng hát bài hát đó. Như vậy, ta thấy trẻ đã biết cách hoạt động theo nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng nhau tìm ra đáp án về bài hát, cùng nhau hát lại bài hát. Thông qua hoạt động này, ta thấy chỉ qua một trò chơi trong hoạt động giáo dục âm nhạc nhưng trẻ vừa được hoạt động nhóm, vừa có được sự mạnh dạn tự tin biểu diễn hát cùng nhau. Ví dụ 2: Hoạt động khám phá xã hội: Tôi là ai? ( chủ đề Bản thân) 7
  8. Khi tổ chức tiết học này, tôi yêu cầu từng trẻ tự lên giới thiệu về tên, tuổi, giới tính, học lớp nào, trường nào, cô giáo nào, sở thích của mình.Tôi nhận thấy, trẻ rất hào hứng lên giới thiệu. Những trẻ mạnh dạn đã nói được đầy đủ những thông tin tôi đưa ra. Nhưng đáng mừng hơn là có những trẻ rất nhút nhát, thiếu tự tin nhưng cũng vẫn có thể đứng dậy và giới thiệu được 1 vài thông tin của mình. Điều đó chứng tỏ rằng, nếu như chúng ta không gọi đến những trẻ nhút nhát thì có lẽ những trẻ đó sẽ chẳng bao giờ dám làm một việc gì trước đám đông cả, và sẽ chẳng bao giờ trẻ tự tin lên được. Ví dụ 3: Hoạt động khám phá xã hội : Gia đình của bé. Trước khi thực hiện tiết học này, tôi đã nhờ phụ huynh ủng hộ những bức ảnh chụp cả gia đình mình. Khi vào tiết học, tôi cho cả lớp xem tất cả những bức ảnh đó -> trẻ rất hào hứng, phấn khởi khi những bức ảnh của nhà mình được cô giáo đưa ra trưng bày.Sau đó tôi cho trẻ kể về gia đình minh bằng những bức hình đó.Tôi nhận thấy những trẻ lên kể rất vui vẻ, rất tự hào khi kể cho cô giáo và các bạn nghe về những thành viên trong gia đình mình, và kỷ niệm gắn với bức ảnh đó. b, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua các hoạt động vui chơi Đối với trẻ mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ ở trường. Thông qua giờ chơi, trẻ được đóng các vai khác nhau trong xã hội, trẻ đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có sẽ được trẻ thể hiện qua họat động vui chơi. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện được những kiến thức mà trẻ đã có. Thông qua hoạt động vui chơi trẻ được trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống từ đó biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Qua các góc chơi như: góc chơi xây dựng, góc phân vai, góc chơi vận động, góc nghệ thuật .Cô giáo luôn là người bạn chơi cùng trẻ để hướng dẫn trẻ giao lưu với nhau trong từng góc, từng nhóm. Cô giáo gợi ý, hướng dẫn trẻ cách chơi, cách xưng hô khi chơi. Cô chơi với trẻ như người bạn thật sự của trẻ để cho trẻ học cách ứng xử với nhau khi chơi, biết đối đáp với nhau trong quá trình chơi. Ví dụ: Qua góc chơi phân vai với trò chơi nấu ăn- gia đình: Trẻ được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ, ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. 8
  9. Trong hoạt động vui chơi không thể thiếu được các trò chơi dân gian, trò chơi dân gian thường được lồng ghép trong quá trình hoạt động của trẻ.Trẻ được tiếp cận và trực tiếp tham gia chơi các trò chơi dân gian sẽ giúp cho trẻ sớm hình thành các thói quen hoạt động có hệ thống, tính tập thể giúp trẻ tự tin, linh hoạt hơn trong mọi hoạt động cũng như sự phát triển sau này của trẻ. Thông qua trò chơi dân gian, trẻ sẽ phát triển được các giác quan, phát triển trí nhớ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ. Trò chơi trí tuệ còn được gọi là trò chơi học tập, nhằm thúc đẩy hoạt động trí tuệ, giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh thông qua các thao tác trí óc kết hợp với hành động chơi như: Ô ăn quan, Cờ vua, Cờ tướng.... Trò chơi vui - khỏe - khéo léo là những trò chơi dân gian tổng hợp vì mỗi trò chơi kết hợp nhiều kỹ năng vận động thể lực. Mục đích của các trò chơi loại này nhằm phát huy tính tích cực chủ động của trẻ, giúp trẻ mở rộng các mối quan hệ như : Hái quả - chui vào hang bắt chuột đồng hoặc chuột túi nhảy qua rãnh nước - tới đích lấy cờ. Tất cả các trò chơi là phương tiện giáo dục thể lực một cách tích cực và thoải mái, giúp trẻ hoàn thiện sức khỏe, hoàn thiện các vận động như chạy, nhảy, đứng lên, ngồi xuống, hình thành và phát triển các tố chất của thể lực (nhanh nhẹn, khéo léo) và những phẩm chất nhân cách như tính kỉ luật, tính tập thể; như trò chơi: Kéo co, rồng rắn lên mây Qua hoạt động vui chơi trẻ mạnh dạn dần, thành thạo dần trong giao tiếp, trong ứng xử đối với mọi người xung quanh. Từ đây trẻ cũng biết nói và trả lời đầy đủ câu từ, biết xưng hô chuẩn mực.Trò chơi dân gian mang tính tập thể cao. Vì vậy, giáo viên cần chú ý giáo dục và rèn luyện cho trẻ biết phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau khi tham gia chơi thì mới đạt được kết quả mong đợi. c, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua việc tạo tình huống cụ thể: Trước đây, với những nội dung dạy trẻ nhận biết một số nguy cơ không an toàn và cách phòng tránh thì giáo viên thường giáo dục trẻ với những lời dặn dò nhắc nhở đơn giản thông qua nội dung các bài thơ, câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục dạy trẻ. Song trên thực tế, trong chương trình có rất ít bài hát, bài thơ, câu chuyện có nội dung đó. Vì vậy, trong năm học này, tôi nghiên cứu lựa chọn những tình huống bất trắc thường xảy ra đưa ra những tình huống cụ thể để dạy trẻ có kỹ năng ứng biến khi gặp tình huống khó khăn, biết cách suy nghĩ và giải quyết . Ví dụ: với chủ điểm “Bản thân”. Trước đây, thông qua câu chuyện “Chú vịt xám” hoặc nội dung bài hát “Đàn Vịt con” chúng tôi chỉ dùng lời giáo dục trẻ: “Khi đi công viên hoặc đến những nơi công cộng thì phải đi với bố mẹ, không được chạy lung tung để khỏi bị lạc” chứ chưa dạy trẻ nếu chẳng may xảy ra sẽ phải xử lý như thế nào. 9
  10. Với cách giáo dục như vậy tôi thấy kết quả đạt trên trẻ chưa đạt hiệu quả. Trẻ ghi nhớ một cách thụ động, và thường chóng quên. Và điều cốt yếu trẻ không hiểu cốt lõi của vấn đề là tại sao không nên làm như vậy và nếu xảy ra thì phải làm thế nào. Do đó bây giờ ngoài việc giáo dục như vậy vào giờ hoạt động chiều, tôi đã đưa ra tình huống “Khi bé bị lạc mẹ trong siêu thị - bé sẽ làm gì ?” Tôi đã cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ đưa ra một cách giải quyết của riêng mình. Lắng nghe ý kiến của trẻ, cho trẻ suy nghĩ và trả lời theo ý kiến của mình, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi: Theo con làm như vậy có được không? Tại sao? Sau đó, cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất : Khi bị lạc mẹ, bé hãy bình tĩnh, không khóc và chạy lung tung mà hãy đứng yên tại chỗ chờ. Vì bố, mẹ sẽ quay lại chỗ đó để tìm bé. Hoặc bé có thể đến chỗ chú bảo vệ, cô bán hàng trong siêu thị ở gần chỗ đó để nhờ gọi điện thoại, hoặc thông báo lên loa để tìm bố mẹ. Tuyệt đối không đi theo người lạ dù người đó có hứa sẽ đưa về với bố mẹ. Vì có thể đó sẽ là kẻ xấu lợi dụng cơ hội đó bắt cóc hoặc làm hại bé. Với tình hình phức tạp trong xã hội hiện nay, nhiều tình huống bất trắc có thể xảy ra đối với trẻ như bị bắt cóc, xâm hại. Tôi đã đưa ra những tình huống để dạy trẻ như : “ Nếu có người không quen biết cho bé quà bé nên làm như thế nào? Ở tình huống này, với lứa tuổi của trẻ trên thực tế trẻ rất thích khi được cho quà và sẽ không biết tại sao không được nhận.Khi trẻ thảo luận, tôi đưa ra những giả thiết, những tình huống xấu “Nếu đó là kẻ xấu thì sẽ rất nguy hiểm cho bé”. Tôi phân tích , giải thích cho trẻ và giúp trẻ có phương án giải quyết đó là: Tuyệt đối không nhận quà, ăn bánh kẹo của người lạ vì có thể bị người xấu tẩm thuốc mê và trúng mưu của kẻ xấu. Khi gặp trường hợp này bé nên nói:“Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu không cho nhận quà của người lạ ạ”. Trong thời gian gần đây, cháy nổ là hiểm hoạ luôn rình rập với tất cả mọi nhà. Chính vì vậy, với trẻ mẫu giáo tuy trẻ còn nhỏ tuổi song tôi nghĩ rằng cũng cần dạy cho trẻ một số kỹ năng ứng biến nếu chẳng may có điều đó xảy ra. Tôi đã đưa tình huống :“ Nếu bé thấy có khói, hoặc cháy ở đâu đó bé sẽ phải làm thế nào?” Qua tình huống này tôi dạy trẻ: Khi thấy có khói hoặc cháy ở đâu, trước hết bé phải chạy xa chỗ cháy, hãy hét to để báo với người nhà và những người xung quang có thể nghe thấy. Nếu không có người ở nhà thì chạy báo cho hàng xóm. Từ những tình huống cụ thể mà rất dễ xảy ra đối với trẻ, bằng cách cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của mình đã có để tìm cách giải quyết vấn đề. Thông qua đó cô giúp trẻ tìm ra phương án tối ưu nhất, đó cũng chính là kinh nghiệm mà ta cần dạy trẻ . Thông qua hoạt động đó cũng 10
  11. giúp trẻ có sự tư duy logic, biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình, và giúp trẻ có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống. d, Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi: Giờ đón trẻ hoặc trả trẻ: tôi rất ân cần và chuẩn mực trong xưng hô với bố mẹ trẻ. Tôi tập cho trẻ khi đến lớp chào cô như thế nào, sau đó chào bố mẹ và người thân để vào lớp học. Giờ hoạt động ngoài trời: Cô luôn nhắc nhở trẻ khi ra sân trường chơi phải đi theohàng, bạn nọ nối duôi theo bạn kia, không đẩy bạn để bạn ngã.Nếu trẻ làm gì sai với bạn, với cô thì phải biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn. Khi đi chơi gặp các bác, các cô làm việc trong trường phải biết chào hỏi lễ phép. Ai cho gì phải biết nhận bằng hai tay và nói cảm ơn. Ví dụ: Khi quan sát cây nhãn, cô hỏi trẻ: + Muốn cây cho nhiều quả nhãn thì chúng ta phải làm gì? + Khi ăn quả nhãn, chúng mình phải nhớ ơn ai? -> Giáo dục trẻ kính trọng, yêu quý người lao động. Đồng thời giáo dục trẻ thói quen vệ sinh trong ăn uống như: ăn từ tốn, không vứt vỏ, bỏ hạt bừa bãi . Giờ ăn cơm: Ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, thìa hoặc biết giúp cô giáo dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người xung quanh. Giờ hoạt động chiều: Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ qua các truyện bằng tranh, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ. Ví dụ: Khi kể chuyện “ Tích Chu” giáo viên đặt những câu hỏi gợi mở như: Nếu là con khi bà bị ốm, con sẽ làm gì? Và khi bà hóa thành chim thì con sẽ làm như thế nào để giúp bà? gợi mở tính tò mò thay đổi tình huống của truyện, đặt tên khác cho câu chuyện v,v . Hoạt động khác: tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày hội lễ như Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, quốc Tế Phụ nữ 8/3, 20/10, ngày 22/12, tết nguyên đán . *Biện pháp 5. Cô làm gương cho trẻ Trẻ mầm non thường học các hành vi thông qua việc bắt chước, nhập tâm và 11
  12. qua luyện tập sinh hoạt hằng ngày.Trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống, người lớn thường làm gương, làm mẫu cho trẻ noi theo. Làm sao để phẩm chất, nhân cách và phương pháp giáo dục hoà quyện mà tác động đến trẻ có hiệu quả nhất. Trẻ em rất dễ bắt chước những cử chỉ, điệu bộ, lời ăn tiếng nói của người lớn. Một cử chỉ thể hiện lòng yêu thương, tôn trọng trẻ sẽ được trẻ ghi nhận và cảm động khiến cho lời dạy bảo của giáo viên có hiệu quả. Trái lại một cử chỉ thể hiện sự ghét bỏ, trẻ sẽ bị trẻ coi thường và căm ghét khiến cho tác động của giáo dục của giáo viên không hiệu quả. + Ví dụ: Khi trẻ làm sai một việc gì đó, tôi cần tìm hiểu nguyên nhân vì sao trẻ làm sai, phân tích cho trẻ biết trẻ sai ở điểm nào và cần sửa chữa như thế nào, chứ không nên tức gận và quát mắng. Tôi đến gần trẻ và nói: "Nếu con làm vậy thì cô giáo rất buồn", và yêu cầu trẻ xin lỗi cô. Như vậy lần sau khi bạn trẻ làm sai việc gì, hay bị bạn trêu chọc thì trẻ sẽ biết kiềm chế cảm xúc của mình, không đánh bạn mà nhờ đến sự giúp đỡ của cô. Qua đó trẻ học được kỹ năng nhận trách nhiệm về hành động của trẻ, biết nhận lỗi mà mình gây ra và biết kiềm chế những cảm xúc tiêu cực của bản thân. * Biện pháp 6. Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đưa vào các chủ đề. Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có thể tích hợp trong các mặt giáo dục, trong những hoạt động hằng ngày của trẻ. Tuỳ vào những chủ đề theo tuần, tháng, học kỳ mà tôi lựa chọn những kỹ năng sống phù hợp để hình thành cho trẻ. Cụ thể như sau: *Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng thích nghi là hai kỹ năng mà tôi lựa chọn để tích hợp vào chủ đề "Trường mầm non". + Kỹ năng giao tiếp:Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ là rất cần thiết, đòi hỏi cô giáo mầm non phải luôn gần gũi trẻ, hiểu trẻ, tạo mọi cơ hội để trẻ được nói thật thoải mái ở mọi nơi, vì chỉ khi nào trẻ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ lưu loát thì trẻ mới có cơ hội phát triển toàn diện. Để khắc phục những hạn chế về giao tiếp cũng như giúp trẻ giao tiếp được tốt, tôi thường xuyên nói chuyện với từng trẻ để kích thích trẻ diễn đạt ý tưởng và cảm xúc. Muốn vậy, tôi luôn chú ý tới những yếu tố sau: - Tạo môi trường giao tiếp và giúp cho trẻ có cảm giác thoải mái, có nhu cầu giao tiếp bằng lời. Trong tất cả mọi hoạt động của trẻ, tôi luôn dùng nhiều trò chơi, câu đố để kích thích trẻ tham gia, qua đó giúp trẻ giao tiếp được tự nhiên hơn. Ví dụ: Trong lớp tôi có cháu Thủy rất ít nói, nhút nhát. Vì thế mà tôi thường cho cháu chơi cùng một nhóm gồm những trẻ mạnh dạn hơn. Trong giờ chơi, tôi cho trẻ chơi trò chơi "Đoán tên bạn". Tôi hỏi trẻ: "Cô đang nghĩ về một bạn trai 12
  13. cao, to nhất lớp mình, Thủy đoán xem cô đang nghĩ về bạn nào? Tại sao con biết?" Trẻ sẽ nói ngay tên bạn đó và vì sao trẻ lại đoán được. Hoặc là tôi cho trẻ tham gia đóng kịch cùng các bạn. - Ngôn ngữ là cái riêng của mỗi người và nó phát triển rất tự nhiên, do đó mà khi giao tiếp sẽ có lúc trẻ nói sai, chúng ta không nên la rầy quát mắng, vì như thế sẽ làm cho trẻ không tự tin, sợ nói. Muốn giúp trẻ sửa lỗi khi nói, tôi thường đóng vai để dạy trẻ như: Trò chơi bán hàng, trò chơi bác sỹ và trò chơi gia đình...Qua đó sẽ giúp trẻ nói theo mẫu của cô và của bạn. - Để cho trẻ có cảm giác gần gũi và thân thiện, tôi không dùng từ ngữ mang tích chất ra lệnh hay sai khiến sẽ làm cho trẻ có cảm giác bị bắt buột, miễn cưỡng phải làm việc đó; mà tôi chỉ nói với trẻ nhẹ nhàng, vỗ về trẻ. Ví dụ: Tôi nói: "Cô muốn các con hay cất ghế đúng nơi quy định cho cô để ra sân tập thể dục nào". Không nên dùng câu: "Cất hết ghế đi". - Để trẻ có cảm xúc mạnh, có nhu cầu về giao tiếp thì việc dùng đến các con rối như các con thỏ bông, gấu bông là rất cần thiết, vì trẻ ở lứa tuổi này rất thích được nói chuyện với những con vật gần gũi với trẻ. Ví dụ: Trong lớp có bạn Toàn ít nói, nhưng khi cô đưa con búp bê ra để hỏi: "Xin chào bạn Toàn, bạn đang làm gì vậy? Nhà bạn có mấy người vậy? Nói cho mình nghe đi!", thì cháu Toàn sẽ hào hứng trả lời ngay. Việc tạo ra một không khí thoải mái, đầm ấm và việc đưa các trò chơi, tạo các tình huống, cũng như dùng các con rối hay các con vật trong việc giao tiếp với trẻ là cách giúp trẻ giao tiếp tích cực nhất. Một kỹ năng nhỏ trong giao tiếp mà lớp tôi đang chủ nhiệm trẻ thể hiện rất hạn chế, đó là kỹ năng "văn hoá chào hỏi". Thế nên, ngay từ đầu trẻ đến lớp tôi đã chủ ý nhắc nhở trẻ chào mẹ, chào cô, chào bạn. Ví dụ: Nếu trẻ quên hay hoặc không chủ động chào co để vào lớp, hoặc chào cô, thì tôi sẽ nói: "Cô chào con, con chào tạm biệt mẹ đi nào!", nhằm gây sự chú ý của trẻ đến việc chào hỏi lễ phép. Để giúp trẻ thực hiện tốt kỹ năng này tôi thường làm theo các cách sau: Cách 1: Dạy cho trẻ cách chào. + Chào ông bà - cần làm những gì? + Chào bố mẹ - chào ra sao? + Chào bạn chào như thế nào? Cách 2: Trò chuyện và đặt ra những câu hỏi về những người trẻ thường gặp hằng ngày.(khi đi học về con gặp ai? Con gặp ở đâu? Con có chào Bác không? Con chào như thế nào) Cách 3: Cho trẻ xem các hình ảnh trên máy, xem tranh ảnh, cho trẻ thấy tác dụng của việc chào hỏi (Làm quen, thể hiện sự kính trọng, người được chào vui 13
  14. vẻ và yêu quý trẻ, trẻ được mọi người khen ngợi, được tặng quà...). Cách 4: Cho trẻ tập chào nhau ở lớp. Cho trẻ đóng vai người lớn, người già,... để các trẻ lần lượt vận dụng kỹ năng trên. Từ đó tôi có thể uốn nắn những hành động chưa đúng, hoặc tổ chức khen ngợi những trẻ thực hiện tốt các kỹ năng, khuyến khích để trẻ khác noi theo. * Kỹ năng thích nghi: Đây là một kỹ năng khá quan trọng mà tôi muốn hình thành cho trẻ ngay từ đầu năm học. Để trẻ có thể hoà nhập được, hoặc phản ứng lại với môi trường bên ngoài. Đó là "kỹ năng thích nghi". Tôi còn dạy cho trẻ những hành vi văn hoá trong ăn uống: biết mời người lớn tuổi trước, mời mọi người cùng ăn, trong khi ăn không nói chuyện, ăn chậm, nhai kỹ, việc này tôi thường lồng ghép vào trong các giờ học, giờ sinh hoạt hằng ngày ở lớp. Đầu tiên tôi hình thành kỹ năng "thích nghi môi trường". Để giúp trẻ để thích nghi với môi trường không có hoạt động nào tốt hơn là hoạt động ngoài trời. Vì vậy tôi không bỏ lỡ cơ hội cho trẻ hoạt động ngoài trời hàng ngày. Được ra ngoài trời không chỉ là để cho trẻ khám phá môi trường tự nhiên, mà trẻ còn được hít thở không khí thiên nhiên, được tắm nắng được thực hiện các vận động chạy, leo trèo, chơi một cách tự nhiên trong sân trường. Trẻ có thể nghịch với cát, đất, điều đó giúp cho trẻ vừa thoả mãn được tính năng động, vừa nâng cao sức đề kháng. Trong quá trình trẻ chơi tôi luôn luôn giám sát để can thiệp khi có dấu hiệu của sự nguy hiểm, đối với sự vấp ngã nhẹ của trẻ tôi quan sát để cho trẻ tự đứng lên, điều đó sẽ giúp trẻ mạnh dạn và tự tin hơn. - Thói quen biết xếp hàng. Đây là thói quen tốt, có văn hoá nơi công cộng. Ví dụ: Ở lớp tôi rèn cho trẻ biết xếp hàng rửa tay trước khi ra về và rủa tay khi tay bẩn và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh. - Thói quen biết bỏ rác vào thùng rác: Thùng rác bố trí hợp lý để trẻ bỏ rác và tôi thường xuyên quan sát, nhắc nhở trẻ bỏ đúng nơi quy định, qua đó hình thành cho trẻ thói quen tốt. - Thói quen biết xin lỗi và cảm ơn: Để trẻ thực hiện tốt thói quen này, tôi thường làm gương cho trẻ noi theo, ở lớp bất cứ trường hợp nào và với bất cứ ai (trong đó có trẻ) nếu cần nói lời xin lỗi hay cảm ơn tôi thường thể hiện cho trẻ thấy. Qua đó, trẻ bắt chước theo và sẽ cảm nhận được một cách tự nhiên các cách ứng xử này. * Chủ đề "Bản thân", tôi lựa chọn hình thành kỹ năng tự chăm sóc bản thân gồm: ttự mặc áo quần, tự chăm lo vệ sinh cá nhân và tự cất đồ dùng đúng nơi quy định. 14
  15. Việc học cách tự chăm sóc bản thân mình là một phần quan trọng trong quá trình phát triển nhân cách cá nhân và nhận thức xã hội của trẻ. Vì vậy tôi luôn theo sát từng hoạt động của trẻ để khuyến khích, uốn nắn và chỉ dạy cho trẻ. Khi yêu cầu trẻ làm một việc gì, cho dù trẻ có làm được hay không tôi luôn động viên sự cố gắng của trẻ, khuyến khích trẻ làm lại, không tạo áp lực cho trẻ bằng cách phê bình hoặc làm giúp cho trẻ, luôn kiên nhẫn hướng dẫn trẻ thực hiện. Tôi kết hợp các bài học trước, trong và sau giờ ăn để trẻ hình thành hành động và thói quen sinh hoạt. Ví dụ: Vào giờ đón và trả trẻ, tôi khuyến khích trẻ tự cởi và mặc áo khoác, dép, mũ... đồ dùng cá nhân và cất ngay ngắn.. Ngoài ra tôi cho trẻ đọc các bài thơ, câu chuyện như: Bài thơ "Cô dạy" "Bé nhớ rửa tay"; câu chuyện: "Gấu con bị sâu răng"... Tôi giới thiệu về nội dung câu chuyện, bài thơ nhiều lần bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm giúp trẻ hiểu được tác dụng của việc rửa tay, lau mặt, đánh răng... để trẻ thích thú và tự giác thực hiện. * Trong chủ đề "Gia đình" tôi lồng ghép kỹ năng tự bảo vệ. Khi mà xã hội ngày càng hiện đại thì chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, nhưng cũng kéo theo nhiều mặt trái. Do trẻ không cẩn thận và chưa được cung cấp những kỹ năng sống nên có nhiều nguy cơ nguy hiểm thường xảy ra với trẻ xảy ra như: bị bắt cóc, bị lạm dụng...Để trẻ tránh được những nguy cơ này, tôi mạnh dạn dạy trẻ cách tự bảo vệ chính mình. Trước đây, qua những bài thơ câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục trẻ về kỹ năng sống khá nhiều và gần gũi. Thực tế hiện nay trong chương trình dạy trẻ 4- 5 tuổi không nhiều bài hát, bài thơ, câu chuyện có nội dung đó. Vì vậy trong năm học này tôi nghiên cứu và lựa chọn những tình huống thường xảy ra để dạy trẻ có kỹ năng ứng biến khi gặp tình huống khó khăn, giúp trẻ biết thoát hiểm. Ví dụ: Vào các buổi hoạt động và sinh hoạt chiều trò chuyện với trẻ: "Hôm qua con được đi chơi không? Con đi với ai? Có vui không?" Sau đó tôi đưa ra tình huống: "Khi con bị lạc mẹ ở giữa đám đông, con sẽ làm gì?", "Nếu bị ai bắt nạt thì con kêu cứu như thế nào?" Tôi cho trẻ suy nghĩ, mỗi trẻ đưa ra một cách giải quyết riêng, tôi lắng nghe ý kiến của trẻ, gợi mở cho trẻ bằng các câu hỏi: "Theo con làm như vậy có được không? Tại sao?" Sau đó tôi dạy cho trẻ: Khi bị lạc mẹ ở đám đông, con phải bình tĩnh, không khóc và đừng chạy lung tung mà hãy đứng yên tại chỗ chờ. Vì bố mẹ sẽ quay lại chỗ đó để đón con. Hoặc đến chỗ cô bán hàng gần nhờ gọi điện thoại. Tuyệt đối không theo người lạ dù người đó hứa sẽ đem về bố mẹ và cho nhiều quà. Vì có thể kẻ xấu sẽ lợi dụng cơ hội đó để bắt cóc hoặc làm hại con. Trong các giờ hoạt động học "Phân biệt một số đồ dùng trong gia đình", ngoài việc giáo dục trẻ biết tránh những đồ dùng nguy hiểm như bàn là, phích 15
  16. nước sôi, bếp đang đun, dao, rựa...Tôi còn dạy cho trẻ biết nguy cơ của việc cháy nổ là hiểm hoạ đối với tất cả mọi nhà, dạy trẻ biết các nguồn gây ra lửa: bếp ga, bật lửa, cồn, nến, dầu, xăng...Tôi nghĩ rằng cần dạy cho trẻ 4- 5 tuổi một số kỹ năng ứng biến nếu chẳng may có điều đó xảy ra. Tôi đưa ra tình huống: "Nếu con thấy có khói bốc lớn, hoặc cháy đâu đó con phải như thế nào?". Qua tình huống này ngoài ý kiến của trẻ, tôi hướng dẫn trẻ tỷ mỉ, chậm rãi giúp trẻ khắc sâu hơn: Nếu các con thấy có khói hoặc cháy ở đâu, trước hết con phải chạy xa chỗ cháy. Hãy hét to để báo với mọi người. Nếu không có người ở nhà thì chạy báo cho người hàng xóm. Ngoài ra tôi còn cho trẻ đóng vai giả làm chú lính cứu hoả, từ đó trẻ sẽ được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết cho mình. Với nhiều tình huống mà trong cuộc sống thường xảy ra với trẻ, tôi đưa ra cho trẻ thảo luận, yêu cầu trẻ suy nghĩ, vận dụng vốn hiểu biết của mình đã có để tìm cách giải quyết vấn đề. Thông qua đó tôi giúp trẻ tìm ra phương án tối ưu nhất, đó cũng chính là kinh nghiệm mà tôi cần dạy trẻ. Thông qua hoạt động giúp trẻ có sự tư duy lôgic, biết cách diễn đạt suy nghĩ của mình và giúo trẻ có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống. *Chủ đề "Thế giới động vật", "Thế giới thực vật", "Các hiện tượng tự nhiên", tôi hình thành cho trẻ kỹ năng khám phá thế giới xung quanh. Trong thực tế, khi tổ chức cho trẻ khám phá thế giới xung quanh, giáo viên chỉ chú trọng việc cho trẻ tìm hiểu khám phá những kiến thức về thế giới xung quanh chứ chưa biết rèn kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động này. Vì vậy kỹ năng sống của trẻ 4- 5 tuổi còn nhiều hạn chế, trẻ chưa thể hiện sự tự tin,chưa có nề nếp thói quen tốt trong sinh hoạt cũng như trong mọi hành vi. Chính vì vậy để khơi dậy và khích thích khả năng tự khám phá, tính tòi mò, sự ham hiểu biết của trẻ, tạo ra nhiều cơ hội để trẻ hoạt động, tôi yêu cầu trẻ quan sát các loại cây ở trường, các con vật nuôi ở nhà, sưu tầm tranh ảnh về các loại thực vật, động vật mang đến lớp. Khi tổ chức hoạt động học tôi cho trẻ nói về những gì mà trẻ quan sát, tìm hiểu được, cho trẻ cùng nhau trao đổi, thảo luận về các bức tranh trẻ sưu tầm.Tôi đưa ra một số câu hỏi:"Vì sao mọi người phải tưới nước cho cây ?"Hoặc "Vì sao các con vật đó không sống được ?"... Sau đó tôi củng cố và khái quát lại. Phát triển kỹ năng khám phá không gian: Tôi cùng trẻ sưu tầm tranh, ảnh trang trí lớp học theo góc, theo chủ đề, luôn tạo không gian mới lạ, hấp dẫn để lôi cuốn trẻ Ví dụ: Chủ đề "giao thông", tôi làm mô hình ngã tư đường phố, cột đèn tín hiệu giao thông, chú cảnh sát và lề đường ...như vậy đã xuất hiện yếu tố mới lạ, hấp dẫn. Qua đó giáo dục trẻ tham gia giao thông đúng luật hơn. Ngoài ra kỹ năng khám phá sự vật, chất liệu tôi thường lồng ghép đan xen trong 16
  17. các hoạt động. Ví dụ: Buổi sáng hoạt động "Phân biệt các loại rau", buổi chiều tôi cho trẻ dùng đất sét có những gam màu cơ bản cho trẻ tạo hình các loại rau, củ, quả, các con vật gần gũi với trẻ trong cuộc sống hàng ngày. Từ đó dần dần phát triển kỹ năng quan sát, ghi nhớ về các sự vật, đồ vật và những gì trong cuộc sống xung quanh trẻ. Khám phá thiên nhiên ở trẻ 4- 5 tuổi là một hoạt động bổ ích và có nhiều niềm vui, giúp trẻ hoà mình vào cuộc sống thiên nhiên, qua đó nó tác động tích cực đến tâm lý, thần kinh và tạo nên môi trường lành mạnh trong nhận thức của trẻ. Ví dụ: Cho trẻ quan sát " Cây bàng " lần 1 cách lần 2 một tháng, tôi đặt ra những câu hỏi gợi mở, giúp trẻ phát hiện những điều mới lạ: "Cây bàng hôm nay có điều gì khác lạ nào?", trẻ phát hiện ra lần trước quan sát lá bàng còn nhiều và đổi màu vàng, giờ cây hết lá và có chồi non. Tôi thường tổ chức cho trẻ thực hành ươm cây, bố trí cho trẻ khám phá hiện tượng thiên nhiên như: mưa, nắng, sấm, sét...Trong những lần quan sát đó tôi đặt ra những câu hỏi để dạy cho trẻ biết chăm sóc bảo vệ cây, biêt tránh nắng, mưa, và tránh khi gặp sấm sét xảy ra. Ví dụ: "Khi đi chơi với bạn thấy có mưa và có sấm sét thì con phải làm gì?" gợi ý cho trẻ nêu lên ý của mình, sau đó tôi dạy trẻ phải biết cách tránh, con phải vào nhà hàng xóm gần để trú nhờ, không trú dưới cây cao sẽ nguy hiểm. Việc giúp trẻ khám phá thiên nhiên tôi luôn lồng ghép xây dựng cho trẻ "Ý thức bảo vệ môi trường", bởi vì xây dựng và bảo vệ môi trường là hai yếu tố rất quan trọng. Trước tiên tôi dạy cho trẻ có nhận thức ban đầu về khái niệm môi trường, đặt ra cho trẻ một số câu hỏi đơn giản về môi trường xung quanh, trường, lớp Ví dụ: "Con thích trường mình không? Vì sao? Trường lớp đã sạch đẹp chưa? Để trường, lớp mình sạch đẹp mãi thì con phải làm gì?" Hoặc khi dẫn trẻ đi chơi trong sân trường thấy có nhiều rác, cô hỏi: "Con thấy sân trường sạch chưa? Vì sao? Giờ con phải làm gì?" Như vậy trẻ biết rác nhiều là không sạch và cùng nhau nhặt bỏ vào thùng rác. Tiếp theo, tôi kể cho trẻ nghe những hành động, hành vi liên quan đến bảo vệ môi trường mà độ tuổi lớp tôi có thể làm được như: không dẫm lên cỏ, không hái hoa, bẽ cành, không vứt rác bừa bãi... Cho trẻ tham gia hoạt động thực hành chăm sóc vườn cây, tưới nước cho cây, nhỏ cỏ.. ở vườn hoa của trường. Hoặc cho trẻ chơi đóng vai cây xanh, hoa, vai bác bảo vệ, nhắc nhở các bạn không nên có các hành động sai, cùng nhau bảo vệ môi trường. Khám phá thế giới xung quanh là cơ hội để trẻ được tiếp xúc, quan sát, tìm hiểu 17
  18. mọi cảnh vật gần gũi xung quanh trẻ như sân trường, vườn nhà.. giúp trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp. * Chủ đề "Nghề nghiệp", tôi bắt đầu đi sâu vào phát triển kỹ năng làm việc theo nhóm. Làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học, dạy học hướng về người học. Giáo dục dựa trên phương pháp làm việc theo nhóm là một phương pháp sư phạm hữu hiệu. Trong lớp học, trẻ được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm được phân công giải quyết một công việc cụ thể hướng tới một nội dung công việc chung lớn hơn, kết quả của từng nhóm sẽ được trình bày để thảo luận chung trước khi giáo viên đi đến kết luận cuối cùng. Ví dụ: Tổ chức hoạt động góc - Trước khi cho trẻ về góc chơi tôi đặt một số câu hỏi: + Sáng nay các con đã chọn góc chơi cho mình chưa? + Lớp mình đang thực hiện chủ đề gì? + Các con cho cô và các bạn biết ý tưởng chơi của nhóm mình nào? (Qua đó cô đặt những câu hỏi để định hướng quá trình làm việc của nhóm). + Quá trình chơi, cô theo dõi, nhắc nhở và hỗ trợ cho các nhóm khi cần thiết. + Kết thúc, cô và trẻ cùng nhận xét kết quả làm việc của nhóm tại góc đó hoặc các nhóm đến góc chơi sáng tạo để nhận xét kết quả của nhóm chơi đó Ví dụ : Tổ chức vệ sinh, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi cuối tuần. Tôi chia lớp thành 2 tổ và phân công cụ thể: Tổ 1: Vệ sinh sắp xếp đồ dùng đồ chơi ở góc xây dựng. Tổ 2: Vệ sinh sắp xếp ở góc phân vai và sắp xếp ở góc chơi học tập. Đặt ra một số câu hỏi định hướng thực hiện nhiệm vụ: + Để làm được công việc này cần có những dụng cụ gì? + Các con sẽ làm như thế nào? (Tôi gợi ý cho trẻ: Theo cô để công việc được nhanh và hiệu quả thì bạn tổ trưởng và các thành viên hãy thảo luận và phân công nhiệm vụ cho từng bạn). Quá trình trẻ thực hiện tôi theo dõi, nhắc nhở và hỗ trợ các nhóm khi cần thiết. + Kết thúc cho các nhóm nhận xét kết quả công việc. Ví dụ : Khi tổ chức cho trẻ phân loại công việc, đồ dùng, sản phẩm của các nghề, chia trẻ thành 3 nhóm, trong một thời gian nhóm nào phân loại đúng, nhiều tranh, là thắng cuộc. Thông qua kỹ năng làm việc theo đội, nhóm, trẻ biết hợp tác giúp đỡ nhau, có những cơ hội để phát triển trí tưởng tượng trong trẻ. Vì vậy để phương pháp này có hiệu quả tôi chú ý chuẩn bị đầy đủ các loại đồ dùng, dụng cụ, đồ chơi cho các 18
  19. nhóm và đưa ra yêu cầu phù hợp để trẻ thực hiện. * Biện pháp 7. Công tác phối kết hợp với gia đình - Gia đình và nhà trường là nhân tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ. Vì vậy việc giáo dục trẻ phải kết hợp nhà trường với gia đình, vì phụ huynh là trợ thủ đắc lực trong việc chăm sóc và giáo dục các cháu. Hiểu rõ được vai trò của các bậc phụ huynh cũng góp phần không nhỏ trong việc giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy ngay từ đầu năm khi tổ chức họp phụ huynh tôi đã đưa sáng kiến và ý tưởng về ý nghĩa giáo dục kỹ năng sống của mình áp dụng vào trẻ. Và thống nhất với các phụ huynh về những biện pháp giáo dục ở nhà và khi họp phụ huynh giữa năm tôi đã nêu tiêu chí nào trẻ đã thực hiện được và làm được hay chưa làm được, còn những tiêu chí nào chưa làm được tôi nêu ra cuộc họp để cùng bàn luận và cùng uốn nắn trẻ ngay và kịp thời. Đặc biệt những phụ huynh ít quan tâm đến con cái, tôi tìm cách để gặp và trao đổi về thành tích học tập của cháu ở lớp và đồng thời hỏi thăm về nề nếp sinh hoạt, sở thích của cháu ở nhà. Với việc làm kiên trì đó tôi đã tác động việc học của cháu ở lớp cũng như việc rèn nề nếp ở nhà, vì tôi thấy rằng một số trẻ có khó khăn trong việc kết bạn hoặc chia sẻ với bạn trong nhóm lớp lại có thể hình thành mối liên kết thân thiết mới trong môi trường gia đình của trẻ. Chính vì vậy cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc bằng cách tạo các mối liên kết bạn bè tại gia đình, cha mẹ không nên bực bội khi trẻ đi chơi với bạn khác Ví dụ: Một số kỹ năng phối hợp cùng cô giáo dạy trẻ kỹ năng cất dép, kỹ năng cất quần áo. Vậy muốn trẻ làm tốt được những kỹ năng này tôi phối hợp với phụ huynh hướng dẫn và quan sát trẻ khi con ở nhà. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của giáo viên và năng khiếu bẩm sinh của trẻ bên cạnh đó cha mẹ cần dạy trẻ từ từ để trẻ hiểu và cha mẹ chính là tấm gương sáng để trẻ noi theo Vì vậy việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt thì phải biết kết hợp hài hòa các biện pháp trên và không thể thiếu một trong những biện pháp đó. Bên cạnh đó là ý thức trách nhiệm và tình yêu thương của cô giáo đối với trẻ. - Phụ huynh có được 1 số tài liệu tham khảo về cách dạy trẻ kỹ năng sống để kết hợp với cô giáo về nhà giáo dục trẻ thêm. - Cô trao đổi với phụ huynh về thời gian của trẻ ở nhà, phụ huynh luôn khuyến khích trẻ tự phục vụ không nên làm hộ trẻ để trẻ không ỉ lại. Phụ huynh khuyến khích trẻ biết giúp bố mẹ những công việc nhà vừa sức như: trông em, quét nhà, nhặt rau....Cô thường xuyên trao đổi với phụ huynh để nắm bắt được tình trạng của trẻ động viên trẻ kịp thời. 19
  20. - Mẹ và cô giáo là những người bạn của trẻ, chúng ta phải lắng nghe tâm tư của trẻ để hiểu được nguyện vọng mong muốn của con và từ đó hướng trẻ có những suy nghĩ tốt những hành vi đúng. Và chúng ta chính là môi trường để hình thành cho trẻ một nhân cách nhân tốt để trẻ mạnh dạn và tự tin hơn. b. Tính mới và sự khác biệt của giải pháp Sau một thời gian dài nghiên cứu đề tài tôi rút ra được tính mới của các giải pháp lồng ghép giáo dục nội dung “Một số biện pháp rèn kĩ năng sống” cho trẻ, giáo viên phải tìm ra các giải pháp và kết hợp, sử dụng các biện pháp một cách linh hoạt, sáng tạo. Trong quá trình giáo dục trẻ về “Một số biện pháprèn kĩ năng sống” cho trẻ phải được tích hợp trong tất cả các lĩnh vực giáo dục. Khi được lồng ghép vào các môn học luôn phải có hình ảnh minh họa và đồ dùng đẹp, sinh động đã đưa các nội dung giáo dục mang tính lành mạnh giáo dục như vậy mới lôi cuốn trẻ tham gia vào các hoạt động. Giáo viên cũng là người tham gia học tập nghiên cứu tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao kiến thức kỹ năng sư phạm. Giáo dục trẻ có thể tự phục vụ bản thân, trẻ có thể giao tiếp tốt hơn, trẻ ứng xử đối phó với các tình huống bất ngờ xảy ra và có hành vi tốt văn minh trong giao tiếp. Giáo viên luôn luôn tạo môi trường thân thiện, gần gũi, nhập vai cùng với trẻ thì việc giáo dục kỹ năng sống mới thành công, luôn coi trọng việc tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc phụ huynh cùng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đưa vào các chủ đề. Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động vui chơi và các hoạt động trong ngày thường xuyên. Tôi luôn tạo cho trẻ cơ hội tham gia các trò chơi trong các giờ học một cách thoải mái và phù hợp với khả năng vận động của trẻ, văn học được xem là một trong những phương tiện giáo dục trẻ phát triển toàn diện, giúp trẻ tham gia hoạt động tích cực, tự giác, đạt hiệu quả cao trong các tiết học, để đạt được mục tiêu của giáo dục phát triển vận động, đáp ứng được tinh thần giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Việc giáo dục “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống” cho trẻ mầm non cần đảm bảo yêu cầu về nội dung trong chương tr.nh giáo dục mầm non. Không những thế chúng ta c.n dựa vào hiểu biết, kinh nghiệm của trẻ và các điều kiện cụ thể ở từng địa phương. c. Tính thực tiễn của sáng kiến Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý linh hoạt các tình huống trong cuộc sống, trẻ được bắt đầu làm quen với các kỹ năng như giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo niềm vui, tự bảo mình, kỹ năng làm việc nhóm, và kỹ năng tự quyết một số tình 20