SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_tre_mau_giao_3_4_tuoi_manh_dan_tu.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp
- 1 I. MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống hiện nay tự tin, mạnh dạn là một trong những yếu tố rất quan trọng và ảnh hưởng đến thành công của mỗi con người. Giao tiếp tốt, tự tin giúp con người phát triển ngôn ngữ, phát triển trí tuệ cũng như học hỏi mọi điều xung quanh nhanh nhất và đầy đủ. Nếu bạn biết rất nhiều mà không thể tự tin truyền đạt cho người khác biết thì không mang lại thành công trong cuộc sống. Chính vì thế, trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi cũng vậy rất cần có tính mạnh dạn, tự tin bởi vì: Ở lứa tuổi này là tiền đề để cho trẻ phát triển nhân cách, giúp trẻ trở thành con người tự tin, năng động sáng tạo và chủ động trong cuộc sống, biết phân biệt rõ cái đúng cái sai. Hơn lúc nào hết chúng ta cần hiểu rằng, cho dù ở thời đại nào thì sự mạnh dạn tự tin vẫn là điều cần thiết để giúp con người vượt qua sự nhút nhát, gò bó mà trẻ sẽ hòa đồng với bạn bè với mọi người xung quanh. Trẻ học cách làm chủ ngôn ngữ học cách nhận biết và đối phó cảm xúc của mình cũng như của người khác. Trẻ học cách xử sự sao cho phù hợp với môi trường xung quanh. Trẻ mầm non cần phải biết mạnh dạn, tự tin, chủ động để chơi với nhau, sống hòa thuận với trẻ khác trong nhóm, tuy nhiên điều này không dễ dàng với một số trẻ. Trẻ cần những kỹ năng quan hệ xã hội như làm thế nào để mạnh dạn tự tin với mọi người, để giao tiếp, để chọn hành vi đúng đắn. Sự mạnh dạn, tự tin có thể được biểu hiện chỉ bằng những cử chỉ, thái độ rất đơn giản và gần gũi trong cuộc sống, song lại giúp chúng ta phát hiện được nhiều điều đáng quí của người khác để trân trọng và học tập. Có thể nói sự mạnh dạn, tự tin chính là món quà quý giá nhất đối với mỗi con người nói chung và bản thân trẻ nhỏ nói riêng. Khi có niềm tin vào bản thân, trẻ sẽ can đảm vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Ở trường mầm non trẻ được vui chơi, học tập, giao lưu, hợp tác cùng bạn giúp trẻ trở nên mạnh dạn, tự tin, năng động, sáng tạo. Tuy nhiên, thực tế trẻ 3- 4 tuổi ở lớp tôi phụ trách phần lớn trẻ còn nhút nhát, thiếu tự tin khi tham gia giao tiếp với các bạn, với cô giáo, với mọi người xung quanh. Bản thân tôi là một giáo viên 3 năm liền phụ trách lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, nhận thức được tầm quan trọng của sự mạnh dạn tự tin đối với sự phát triển của trẻ, tôi đã luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để giúp trẻ 3- 4 tuổi của lớp tôi giao tiếp với bạn bè, cô giáo và với mọi người xung quanh một cách mạnh dạn, tự tin, hồn nhiên nhưng không gò bó, ép buộc trẻ. Chính vì vậy, tôi đã chọn cho mình đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp” để làm sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2020 -2021 này. II. NỘI DUNG a. Thực trạng của vấn đề Năm học 2020 – 2021, tôi được nhà trường phân công đứng lớp 3-4 tuổi (A). Với số trẻ 25/11 nữ. Trong quá trình thực hiện, tôi gặp phải những thuận lợi và khó khăn *Thuận lợi: - Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện giúp đỡ cho giáo viên về chuyên môn.
- 2 - Giáo viên nắm vững phương pháp, có trình độ đai học. - Bản thân là một giáo viên luôn có ý thức tự học hỏi và tìm tòi hiểu biết để giúp trẻ mạnh dạn tự tin thông qua bạn bè, trẻ, đồng nghiệp và sách báo. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ trong hoạt động dạy và học đầy đủ. * Khó khăn: - Mặc dù đã được tập huấn về nội dung cũng như phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non, song bản thân tôi vẫn còn lúng túng trong nội dung rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ trong giao tiếp. - Đặc điểm sinh lý trẻ mẫu giáo bé chưa ổn định, ngôn ngữ nghèo nàn, chưa phát triển nhiều. - Nhiều trẻ còn nhút nhát, rụt rè, cá tính chưa tích cực hứng thú tham gia vào các trò chơi đòi hỏi tính tập thể cao. - Sự phối kết hợp giữa phụ huynh với lớp vẫn chưa thường xuyên. *Khảo sát thực trạng: Qua khảo sát đầu năm, kết quả cho thấy như sau: Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu Nội dung Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 1. Chủ động giao tiếp với mọi 15/25 60% 10/25 40% người xung quanh 2. Biết bày tỏ cảm xúc của mình 10/25 40% 15/25 60% với người khác 3. Diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc 10/25 40% 15/25 60% Với những kết quả như trên, bản thân tôi nhận thấy cơ bản trẻ chưa có tính mạnh dạn tự tin khi ở trường, số trẻ có tính mạnh dạn tự tin trong giao tiếp rất ít b.Các giải pháp thực hiện: Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng cho bản thân Để thực hiện tốt việc rèn luyện cho trẻ tính tự tin mạnh dạn tại lớp mình, việc đầu tiên khi thực hiện đề tài này, tôi cần dựa trên tình hình thực tế của nhóm lớp, khả năng nhận thức cùng đặc điểm tâm sinh lí của trẻ trong lớp để thực hiện xây dựng kế hoạch cho mình. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tập trung sưu tầm và tham khảo nhiều tài liệu giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, dành nhiều thời gian đọc các tài liệu về tâm lý học trẻ em, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi và tìm hiểu các nguồn tư liệu trên các kênh giáo dục khác, trên mạng enternet. Đây là một trong những biện pháp quan trọng trong việc rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ. Để thực hiện chương trình giáo dục có hiệu quả thì đòi hỏi giáo viên phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú chính xác và trải nghiệm các kỹ năng giáo dục thực tế. Thông qua việc tự học tự bồi dưỡng tôi hiểu rằng để dạy trẻ tính mạnh dạn tự tin giáo viên phải luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu trẻ bằng cách: + Tôn trọng trẻ, giúp trẻ nhận thức được bản thân. + Tăng cường sự tự tin cho trẻ bằng những lời cổ vũ. + Tìm hiểu khuyến khích trẻ thể hiện bản thân.
- 3 + Hướng dẫn trẻ cách tự giải quyết vấn đề, không được làm thay trẻ hay bao bọc trẻ khiến trẻ ỷ lại và không thể tự lập. + Luyện tập sự tự tin cho trẻ mọi lúc mọi nơi. + Cho trẻ tiếp cận với những hoạt động mà bé yêu thích. Từ việc thực hiện những biện pháp này, ban đầu trẻ nhút nhát, không chịu tiếp xúc, giao lưu, chơi cùng bạn, thậm chí có trẻ khi cô đến bên vỗ về, hỏi chuyện trẻ còn né tránh, không chịu nói chuyện cùng cô...nhưng chỉ sau vài tuần học đầu tiên, tôi đã thấy có những hiệu quả rõ rệt: Trẻ đã mạnh dạn hơn, tự nhiên hơn và tích cực tham gia vào các hoạt động hơn. Sau một năm áp dụng những biện pháp mà tôi đã tham khảo được, cộng với việc tự học tự bồi dưỡng, bản thân tôi đã có thêm nhiều kinh nghiệm, thêm kiến thức và tự tin hơn trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Giải pháp 2: Giúp bé có cảm giác thích thú mỗi khi đến lớp. Mỗi ngày đến trường là một ngày vui, để làm được điều đó bản thân tôi phải cố gắng rất nhiều, không những phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tìm tòi những cái mới lạ áp dụng vào giảng dạy mà còn phải tự hoàn thiện bản thân mình hơn để luôn đẹp trong mắt của trẻ, luôn cho trẻ cảm giác an toàn khi đến lớp, luôn tạo cho trẻ có cảm giác gần gũi, quen thuộc có như vậy trẻ mới thích được đi học, thích đến trường, thích tò mò khám phá, thích đặt những câu hỏi với cô. Để làm được điều đó tôi nhận thấy rằng mình vừa phải là người bạn, vừa là người mẹ để cháu tin yêu gần gũi khi nói chuyện: Muốn trẻ mạnh dạn tự tin, thông minh tôi nhận thấy rằng mình luôn phải gần gũi trò chuyện và chơi cùng trẻ ở mọi lúc mọi nơi không nên quát mắng, cấm đoán trẻ phải thế này, phải thế kia. Khi trẻ làm sai, tôi không phạt trẻ mà cần động viên trẻ cố gắng lần sau Tôi luôn lắng nghe và tôn trọng những thắc mắc, những câu hỏi của trẻ. Thậm chí quan tâm cả những lời mách vẩn của cháu đồng thời tôi cũng luôn nhủ với lòng mình là bớt nghiêm khắc hơn với các cháu. Sau một thời gian áp dụng, tôi thấy trẻ lớp tôi rất yêu quý các cô ở lớp, rất tự tin mạnh dạn trò chuyện, giao tiếp cùng cô, thích được tới lớp học. Thể hiện qua tỷ lệ chuyên cần của các tháng rất cao. Mặt khác, tôi rất chú trọng đến giờ đón trẻ, tôi biết trẻ rất thích được khen khi có cái mới. Vì vậy, ngoài việc để ý đến tình hình sức khỏe của các con khi tới lớp, tôi thường quan sát để ý thật nhanh xem hôm nay trẻ có cái gì mới, kịp thời khen ngợi trẻ. Tôi nhận thấy, mỗi khi được khen trẻ rất vui, tươi cười bước vào lớp. Ngoài ra, tôi thường dạy cho trẻ chào cô, bố mẹ mỗi khi vào lớp, những lúc ra về. Điều đó không những tạo thành thói quen tốt cho trẻ mà còn giúp cho trẻ mạnh dạn, tự tin với cô giáo, người lớn. Giải pháp 3: Thông qua hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng quyết định quá trình giao tiếp của trẻ. Trẻ có tự tin, mạnh dạn giao tiếp tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố này: Nếu trẻ có vốn từ phong phú, khả năng diễn đạt lưu loát, phát âm tốt trẻ sẽ tự tin hơn khi thể hiện cảm xúc, ý kiến hay mong muốn của mình, tự tin nói
- 4 chuyện với cô, với người lạ đến lớp, tự tin đặt câu hỏi mà không hề cảm thấy ngại... Ngược lại, nếu vốn từ của trẻ ít, phát âm chưa rõ từ trẻ sẽ rất ngại nói, ngại va chạm, từ đó trẻ không muốn tiếp xúc với người khác. Trẻ trở lên tự ti, mặc cảm nhút nhát Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã không ngừng rèn ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi có thể: Giờ đón, trả trẻ, giờ hoạt động chung, hoạt động góc, hoạt động vui chơi Qua một thời gian tôi nhận thấy, trẻ lớp tôi biết chào hỏi lễ phép với người lớn, biết nói đủ câu có chủ ngữ, vị ngữ, trẻ không nói trống không, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc. Tôi thường xuyên cung cấp và mở rộng thêm vốn từ cho trẻ thông qua các bài hát, bài thơ, câu chuyện hoặc thông qua những bộ phim hoạt hình ngắn, vui nhộn . Bên cạnh đó, tôi thường trò chuyện với trẻ về bất kì điều gì trẻ thích hoặc trả lời bất kì câu hỏi gì trẻ đề cập qua đó cung cấp thêm vốn từ và biểu tượng mới cho trẻ Những từ nào khó trẻ không hiểu tôi giải thích cho trẻ hiểu. Giải pháp 4: Tạo môi trường thân thiện thông qua các hoạt động * Thông qua trò chơi tập thể Với trẻ mầm non mạnh dạn tự tin giao tiếp tốt trong tập thể giúp trẻ thích nghi dễ dàng, nhanh chóng với môi trường mới, thầy cô, bạn bè mới và những đòi hỏi mới của hoạt động học tập, ý thức và tinh thần tập thể sẽ giúp tránh được những xung đột không đáng có giữa trẻ với nhau, giữa trẻ với thầy cô, làm nảy sinh ở trẻ tính mạnh dạn tự tin chủ động trong giao tiếp với người khác và trên cơ sở đó phát triển những mối quan hệ thân thiện, gần gũi, cảm thông giữa trẻ với những người xung quanh. Tất cả những điều này tác động một cách tích cực lên trẻ, làm cho trẻ cảm thấy hứng thú muốn đến trường, muốn giao tiếp với cô, bạn bè VD: Trò chơi: Bạn hãy làm giống tôi Tổ chức: Cô và trẻ ngồi thành vòng tròn. Trước tiên cô giáo nói tên của mình (chào các bạn tôi tên là Nhung) sau đó ném bóng cho một trẻ bất kỳ. Trẻ nhận được bóng từ cô giáo sẽ nói tên mình. Cứ như vậy cho đến khi tất cả các trẻ nhớ tên nhau. Trẻ mạnh dạn đứng lên giới thiệu tên của mình. * Thông qua hoạt động vui chơi: Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói riêng. Trẻ được chơi với đồ vật, được trải nghiệm thực tế là cơ sở vững chắc để hình thành và phát triển, rèn luyện và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Thông qua các trò chơi, vai chơi ngôn ngữ vốn từ của trẻ tăng nhanh, góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân thiện, tự tin giữa giáo viên với trẻ và giữa trẻ với trẻ. Ví dụ: Trong chủ đề “Ngành nghề”, ở góc phân vai có trò chơi “bác sỹ”. Trẻ được đóng vài làm bác sỹ khám bệnh cho bệnh nhân với thái độ vui vẻ, niềm nở, hỏi thăm bệnh tình của bệnh nhân, còn y tá biết cấp phát thuốc dặn dò bệnh nhân cách uống, cách chăm sóc sức khỏe Hay ở góc “phân vai” trẻ đóng vai “mẹ, con” trẻ sẽ giao tiếp giữa các vai chơi với nhau thể hiện được tình cảm, sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình .Qua cách thể hiện, tái tạo lại những việc làm hằng ngày của người lớn được trẻ thể hiện qua các vai
- 5 chơi trong các góc chơi, vốn từ của trẻ tăng lên đáng kể, trẻ mạnh dạn, tự tin thể hiện hành vi của mình một cách tự nhiên. Hoạt động vui chơi diển ra trong thời gian tương đối dài, có rất nhiều tình huống xảy ra, vì vậy giáo viên luôn bao quát và kịp thời can thiệp để điều chỉnh hành vi, giúp trẻ có thói quen tốt, biết cái nào nên làm, cái nào không nên làm. Lâu dần những thói quen tốt, hành vi đẹp sẽ được tích lũy và trở thành kỹ năng sống cho trẻ. * Thông qua hoạt động lễ hội Thông qua các hoạt động lễ hội, văn nghệ vui chơi được tổ chức theo hàng tháng xuyên suốt cả năm học góp phần cho trẻ lĩnh hội các ngày lễ lớn giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong mọi hoạt động góp phần cho trẻ phát triển toàn diện.Việc tổ chức hiệu quả các ngày hội ngày lễ cho trẻ là một hình thức giáo dục hiệu quả và sinh động nhất, giúp trẻ được trải nghiệm các cảm xúc tích cực. Thông qua đó, trẻ được học và mạnh dạn tự tin giao tiếp với cô giáo, bạn bè và cha mẹ. Ví dụ: Ngày 20/10, 8/3 Trước ngày tổ chức lễ hội tôi cùng trẻ trò chuyện về ý nghĩa ngày hội, đưa ra ý định, hình thức tổ chức và thăm dò ý kiến của trẻ về món quà tặng bà và mẹ. Sau đó dạy trẻ làm bưu thiếp chúc mừng, giúp trẻ ghi lại cảm xúc, lời chúc của trẻ dành cho bà và mẹ. Cùng trẻ trang trí bưu thiếp để chúc bà và mẹ với lời đề từ ấn tượng: “Con chúc mẹ của con luôn xinh đẹp và trẻ mãi” hay “Con chúc bà mạnh khỏe”. Các bé được tập luyện những bài hát, bài thơ hay về bà và mẹ thể hiện niềm vui niềm tự hào trên những khuôn mặt ngây thơ. Dường như các bé cũng hiểu mình đang làm một việc tốt, ý nghĩa dành tặng cho những người thân yêu. * Thông qua hoạt động nêu gương Với cách làm này tôi giúp trẻ nhút nhát thụ động, mạnh dạn hơn với mọi hoạt động trong ngày. Bản thân trẻ rất quan tâm tới: “Bảng bé ngoan” khi trẻ được lên cắm cờ trẻ sẽ rất phấn khởi, tự hào với các bạn bè, mong chờ được khoe với bố mẹ vào mỗi buổi chiều, nói lại kết quả vì sao mình được lên cắm cờ cho bố mẹ biết. Từ đó tôi đã dần tạo cho trẻ tính mạnh dạn tự tin trong giao tiếp với bạn bè, biết giúp đỡ cô, biết làm việc tốt với bản thân và người khác để được công nhận. Tôi sẽ đưa ra các tiêu chí được lên cắm cờ: Đi học chuyên cần, đến lớp không khóc nhè, tập trung chú ý vào giờ học, biết giúp đỡ cô và bạn bè, mạnh dạn tự tin mọi hoạt động trong lớp, không tranh giành đồ chơi của bạn Và tùy thuộc vào từng đối tượng mà từng tiêu chí đó có được cô và các bạn công nhận hay không. Ví dụ: Đối với cháu Lâm Nhi– một bé nhút nhát tiêu chí đánh giá mạnh dạn tự tin trong mọi hoạt động, giao tiếp với cô và bạn bè mạnh dạn cởi mở. Hay đối với cháu Gia Hân đi học hay khóc nhè, nói nhỏ, thì bé phải khắc phục được nhược điểm đó mới được cắm cờ Với cách làm này trẻ sẽ luôn vui vẻ, tự nguyện phấn đấu để cuối ngày được lên cắm cờ.Từ đó luôn diễn ra sự cạnh tranh rất lành mạnh giữa các trẻ. Kết quả giúp trẻ tự có nhu cầu hoàn thiện bản thân cao, trẻ sẽ mạnh dạn tự tin
- 6 hơn trong các trong các hoạt động trong ngày dần dần thói quen tốt nảy sinh trở thành một nhu cầu, một kỹ năng sống tốt của trẻ Giải pháp 5: Quan tâm tới từng cá nhân trẻ, đặc biệt là trẻ nhút nhát, thụ động. Trẻ nhút nhát mất tự tin có thể gặp nhiều bất lợi trong cuộc sống hiện nay, bởi các bé sẽ mất nhiều thời gian hơn để cảm thấy thoải mái trong công việc giao lưu tiếp xúc với mọi người. Ngược lại tự tin sẽ giúp một đứa trẻ có thể giao tiếp, sẵn sàng hòa đồng, sẵn sàng học hỏi những điều mới lạ, sẵn sàng thể hiện bản thân và chia sẻ những điều mình biết, mình nghĩ với mọi người xung quanh. Lớp tôi cũng có một số bé sức khỏe yếu hay nghỉ dài như bé: Gia Hân, Đức Tiến, Phi Hùng Vì vậy, mỗi khi đi học đến lớp các bé thường buồn và không tham gia được các hoạt động học tập chung. Để giúp các bé mạnh dạn, thích đi học đến lớp, chúng tôi lôi cuốn bé vào các hoạt động tập thể, khéo léo gợi ý những bé mạnh dạn tự tin như: Bảo Anh, Minh Thành đến kết bạn, tạo cho các bé nhiều cơ hội mạnh dạn tự tin giao tiếp với các bạn, như cùng vẽ tranh, nặn quả, làm đồ chơi dần dần các bé đã quen hơn với môi trường tập thể và thích đi học. Bây giờ bé Gia Hân, Phi Hùng được cô giáo và các bạn rất yêu quý vì bé rất ngoan, đã mạnh dạn tự tin giao tiếp với bạn bè và còn thích hát, múa và thích được biểu diễn văn nghệ. Còn đối với những trẻ mạnh dạn, tự tin, có năng khiếu nghệ thuật, tôi luôn tìm cách tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện hết mình vào các hoạt động như: Tổ chức chương trình văn nghệ tổng hợp biểu diễn vào cuối mỗi chủ đề. Tìm được cho mình biện pháp trên, tôi thấy trẻ trong lớp mạnh dạn tự tin hơn trong các tiết học cũng như trong các hoạt động khi đến trường. Bên cạnh đó tôi luôn tạo nhiều cơ hội cho trẻ được nói, được làm và được chia sẻ mọi lúc mọi nơi khi đến trường. Giải pháp 6: Công tác phối kết hợp với phụ huynh Đây là một trong các biện pháp rất quan trọng trong việc phát triển khả năng giao tiếp tự tin, mạnh dạn cho trẻ. Chính vì vậy, để lôi cuốn phụ huynh cùng tham gia với giáo viên trong lớp, giáo viên cần đặc biệt quan tâm chú trọng đến công tác tuyên truyền. Có không ít phụ huynh khi gửi con đến trường mầm non yên tâm giao trọng trách giáo dục trẻ cho nhà trường, cho cô giáo mà quên rằng vai trò của cha mẹ là vô cùng quan trọng trong việc phối hợp với nhà trường giáo dục con, bởi “Cha mẹ là những người thầy đầu tiên của bé” ngay cả khi giao bé cho những cô giáo mầm non vai trò của cha mẹ cũng không hề mờ nhạt đi. Cha mẹ cần đi cùng với con suốt quãng đường đời mà những năm tháng tuổi thơ sẽ tạo nên một nền tảng vững chắc cho bé khi trưởng thành. Xác định được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa phụ huynh và nhà trường ngay từ đầu năm học khi mới đón trẻ vào lớp chúng tôi luôn tiếp xúc phụ huynh với một thái độ tích cực, thân thiện, mạnh dạn trao đổi cụ thể với phụ huynh về chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường, nắm bắt kịp thời những thông tin về đặc điểm tâm lý, tính cách của cá nhân trẻ, trao đổi với phụ huynh về một số sinh hoạt của các con.
- 7 Bên cạnh đó, giáo viên cũng liên lạc thường xuyên với gia đình trẻ “Qua trao đổi trực tiếp, bảng thông báo, điện thoại” để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia đình, thông tin cho cha mẹ biết tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của trẻ để kịp thời có biện pháp giáo dục phù hợp. Từ những hoạt động phối hợp như trên, giáo viên nhanh chóng tìm ra biện pháp hình thành ở trẻ những hành vi tốt, những thói quen và những kỹ năng sống chuẩn mực. Đồng thời giúp trẻ giao lưu cùng các bạn trong lớp nhằm tạo nên nhu cầu tự học, tự rèn luyện thói quen đào sâu suy nghĩ về một vấn đề nào đó của trẻ. Dần dần trẻ được hình thành thói quen suy nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của mình với người khác trẻ sẽ cảm thấy tự tin hơn và mạnh dạn hơn trong mọi việc, trẻ sẽ thân thiện hơn, gắn bó hơn học tập chia sẻ công việc cùng với bạn bè, cô giáo và gia đình. * Qua một năm áp dụng một số biện pháp trên tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi (A), kết quả đạt được như sau: - Đối với trẻ: + Ngôn ngữ phát triển, diễn đạt mạch lạc + Kỹ năng giao tiếp tốt + Trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia vào các hoạt động + Mạnh dạn, tự tin bày tỏ ý kiến của mình. Cụ thể: Đầu năm Cuối năm Nội dung Số trẻ đạt Tỷ lệ Số trẻ đạt Tỷ lệ 1. Chủ động giao tiếp với mọi 15/25 60% 25/25 100% người xung quanh 2. Biết bày tỏ cảm xúc của 10/25 40% 25/25 100% mình với người khác 3. Diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc 10/25 40% 24/25 96% - Đối với giáo viên: + Giáo viên linh hoạt, sáng tạo hơn trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ. Đồng thời tạo được sự thân thiện, gần gũi với trẻ vừa là người hướng dẫn vừa là bạn chơi của trẻ. + Hiểu được tâm lý của trẻ, tạo được cảm giác gần gũi, an toàn, cởi mở, thân thiện với trẻ và và lòng tin yêu của phụ huynh. + Nắm chắc kỹ năng sư phạm trong việc rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ. + Được nhà trường, đồng nghiệp đánh giá cao trong công tác rèn tính mạnh dạn tự tin cho trẻ. - Đối với phụ huynh: Phụ huynh rất phấn khởi và quan tâm hơn khi thấy con mình tự tin mạnh dạn trong mọi hoạt động ở trường cũng như ở nhà. Đồng thời cảm thấy an tâm hơn khi đưa trẻ đến với lớp với trường trong vòng tay bạn bè, cô giáo. III. KẾT LUẬN Tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp là một trong những kỹ năng vô cùng quan trọng không những giúp trẻ phát triển tốt về mặt trí tuệ mà còn phát triển về mặt ngôn ngữ và nhận thức xã hội. Hình thành tốt kỹ năng này cho trẻ từ nhỏ
- 8 không những giúp cho trẻ có thể giao lưu, trò chuyện với mọi người được cởi mở, thân thiện mà còn giúp trẻ biết quan tâm, chia sẻ với người khác, giúp trẻ tự tin nói lên suy nghĩ, mong muốn của mình. Đặc biệt tự tin trong giao tiếp giúp cho ngôn ngữ của trẻ được phát triển. Trẻ nói rõ ràng, mạch lạc tự tin chia sẻ cảm xúc của mình, câu từ trau chuốt, vốn từ phong phú, trẻ có thể hỏi đáp trực tiếp với người đối diện qua đó giúp trẻ phát triển và hoàn thiện hơn về nhân cách của trẻ. Đó chính là kim chỉ nam giúp cho trẻ có thể tự tin vào cuộc sống và có những bước đột phá sau này. Qua kết quả đạt được ở trên, tôi thấy rằng để giúp trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp tốt, bản thân tôi đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho mình như sau: Luôn trau dồi kiến thức về kỹ năng rèn tính mạnh dạn, tự tin cho trẻ trong giao tiếp. Luôn tạo môi trường lớp học thân thiện, có nhiều cơ hội cho trẻ vui chơi, sinh hoạt và học tập cùng nhau, để trẻ trải nghiệm kỹ năng mạnh dạn tự tin. Quan tâm, chú ý tới từng cá nhân trẻ, đặc biệt là trẻ nhút nhát, thụ động. Phố hợp tốt với phụ huynh, tạo mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa phụ huynh với lớp, cô giáo và nhà trường. Trên đây là một số biện pháp giúp cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy ở lớp mà tôi đã áp dụng trong thời gian qua. Từ sáng kiến này, rất mong có được những ý kiến đóng góp chân thành của Ban Giám hiệu nhà trường, các bạn đồng nghiệp cùng tất cả các cấp lãnh đạo có liên quan giúp tôi hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hiệu trưởng Cam Lộ, ngày 10 tháng 5 năm 2021 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết không sao chép của người khác Người viết Nguyễn Thị Hoài
- 9 Đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với toán” I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, giáo dục Mầm Non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình và toàn xã hội.
- 10 Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách ở mỗi trẻ. Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi ở trường giúp cho trẻ phát triển về ngôn ngữ, thể chất, nhận thức, tình cảm và kỹ năng xã hội, từ đó nhằm phát triển một cách toàn diện về đức - trí - thể - mỹ cho trẻ. Hoạt động làm quen với toán là một trong những hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển tư duy, góp phần hình thành những biểu tượng ban đầu về toán cho trẻ Mầm Non. Thông qua hoạt động làm quen với toán trẻ sẽ hình thành những biểu tượng ban đầu như: Số lượng, kích thước, hình dạng, định hướng trong không gian... và cũng từ đó sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, khám phá, so sánh, phân tích, tổng hợp các sự vật hiện tượng khách quan..... Trên cơ sở đó, tăng thêm vốn ngôn ngữ và góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ và thể chất cho trẻ, để sau này trẻ sẽ vững vàng, tự tin hơn khi tiếp nhận những kiến thức ở giai đoạn tiếp theo. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của hoạt động làm quen với toán đối với trẻ, tôi thấy cần phải cho trẻ làm quen với các biểu tượng toán ngay từ lứa tuổi mầm non nói chung và trẻ 3-4 tuổi nói riêng là rất thiết thực. Nhưng làm thế nào để trẻ tích cực, hứng thú vào hoạt động và tiếp thu kiến thức một cách chủ động, không gây nhàm chán, nặng nề cho trẻ, đó là điều mà bản thân tôi cảm thấy băn khoăn, lo lắng, vì thế tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với toán” để làm sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2019-2020 này. 2. Mục đích nghiên cứu: Tìm cách vận dụng đổi mới phương pháp giáo dục để áp dụng vào các hoạt động hướng dẫn trẻ làm quen với toán đạt kết quả cao. 3. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về những biện pháp giúp cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với toán. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: - Lớp 3- 4 tuổi (B) 5. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp dùng lời nói. - Phương pháp thực hành, trải nghiệm - Phương pháp quan sát - Phương pháp dùng hình ảnh minh hoạ. 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- 11 Nghiên cứu trong suốt cả năm học 2019-2020 có kế hoạch cụ thể hàng tuần, tháng. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: Hoạt động làm quen với toán đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp kiến thức ban đầu cho trẻ. Việc dạy trẻ nắm chắc các kiến thức trong hoạt động làm quen với toán, không những giúp trẻ học bộ môn toán sau này dễ dàng hơn mà còn giúp cho trẻ tiếp thu các hoạt động khác một cách nhanh nhạy và chính xác. Đối với trẻ Mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói riêng, việc cho trẻ làm quen với những biểu tượng về toán là rất cần thiết, nhưng để dạy như thế nào? Dạy những nội dung gì? Chúng ta cần phải có những biện pháp nào? thì người giáo viên phải biết lựa chọn những phương pháp, biện pháp phù hợp với lứa tuổi và khả năng nhận thức của trẻ. 2. Cơ sở thực tiễn: Đa số các bậc phụ huynh thường chú trọng đến các hoạt động ở lớp như: Hoạt động vui chơi, ăn, ngủ, vệ sinh. Chứ chưa quan tâm đến những kiến thức trẻ tiếp thu được từ những hoạt động học. Vì thế tôi đã chọn đề tài này để làm sáng kiến kinh nghiệm. Với đề tài này ở lớp tôi phụ trách, bản thân tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: a. Thuận lợi: - Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao về chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. - Bản thân tôi nắm vững được kiến thức, kỹ năng của hoạt động làm quen với toán. - Đa số trẻ trong lớp đã học qua lớp nhà trẻ 24-36 tháng nên đã có một số kiến thức và kỹ năng nhất định. Trẻ ham học hỏi, thích khám phá và tìm hiểu thế giới xung quanh. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ trong hoạt động dạy và học đầy đủ. b. Khó khăn: - Trẻ chưa chú ý, tập trung vào hoạt động.
- 12 - Khả năng nhận thức của trẻ về nội dunng hoạt động làm quen với toán còn nhiều hạn chế. - Nhiều trẻ đến lớp còn rụt rè, nhút nhát, thiếu mạnh dạn, tự tin. c. Khảo sát thực trạng: Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu Nội dung Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 1. Tập hợp, số lượng, số thứ tự và 20/31 64,5% 11/31 35,5% đếm 2. Xếp tương ứng 18/31 58,1% 13/31 41,9% 3. So sánh, sắp xếp theo quy tắc 18/31 58,1% 13/31 41,9% 4. Hình dạng 20/31 64,5% 11/31 35,5% 5. Định hướng trong không gian 15/31 48,4% 16/31 51,6% 3. Các giải pháp thực hiện: Giải pháp 1: Sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn gây hứng thú cho trẻ trong hoạt động làm quen với toán Như chúng ta đã biết, đặc trưng hoạt động làm quen với toán là tính chính xác và khoa học, tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động, hoạt động của trẻ là hoạt động với đồ vật, trẻ học được, tiếp thu được, thể hiện được khả năng hiểu biết của mình cũng phải phụ thuộc vào đồ dùng trực quan. Chính vì vậy, khi tổ chức cho trẻ hoạt động làm quen với toán tôi phải xem trọng nhất là đồ dùng trực quan, nếu không có đồ dùng trực quan cô và trẻ không thể thực hiện được. Ví dụ: Khi dạy trẻ nhận biết hình vuông, hình chữ nhật mà cô không chuẩn bị các hình cho trẻ thì trẻ không được nhìn, được cầm, được chọn từ đó trẻ sẽ không nhận biết được hình. Nếu cô không chuẩn bị đầy đủ cho mỗi trẻ, thì trẻ sẽ không thể thực hiện được. Chính vì vậy đồ dùng đồ chơi nhất thiết phải đầy đủ, không những đủ mà còn phải đẹp, phù hợp với trẻ, với chủ đề và đề tài đang học. Ví dụ: Trong bài dạy “To- nhỏ”. Chủ đề: “Bản thân”Tôi sẽ sưu tầm các nguyên vật liệu như ống truyền dịch hay những loại ống nước nhỏ nhất sau đó
- 13 sơn màu lên làm thành những cái vòng đeo tay to, nhỏ khác nhau cho trẻ thực hành, trải nghiệm. Kết quả trẻ rất hứng thú. Khi làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ làm quen với toán phục vụ nội dung dạy, giáo viên phải suy nghĩ, tìm tòi để làm ra những cặp đồ dùng đồ chơi có mối quan hệ lôgic và hợp lý. Ví dụ: Khi dạy trẻ đếm đến 5, tôi đã chọn cặp đối tượng thỏ và cà rốt. Hay hoa với chậu....để cho trẻ đếm, so sánh và nhận xét. Việc gây hứng thú ngay từ đầu tiết học bằng đồ dùng trực quan không những tạo được sự chú ý cho trẻ ngay từ đầu tiết học mà còn tạo cho trẻ một tâm lý thoải mái để trẻ dễ dàng tiếp thu nội dung chính. Giải pháp 2: Luyện tập cho trẻ thông qua các trò chơi Để tăng tính hấp dẫn của hoạt động làm quen với toán, tôi áp dụng những trò chơi sáng tạo vào các giờ học nhằm khích lệ trẻ, giúp trẻ tiếp thu, củng cố được kiến thức mà không gây mệt mỏi, nặng nề cho trẻ. Tuy nhiên, để thông qua trò chơi trẻ đạt được kiến thức, đòi hỏi giáo viên phải nêu được cách chơi, luật chơi ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu. Các trò chơi không nên lặp đi lặp lại ở cùng một tiết học.Yêu cầu của trò chơi phải được nâng dần lên qua mỗi lần chơi, có như vậy mới phát huy được tính sáng tạo, tích cực của trẻ. Mặt khác, qua các trò chơi giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở, phát huy tính tích cực của trẻ, trẻ trở thành trung tâm của hoạt động. Ví dụ: Dạy trẻ nhận biết hình tròn, hình vuông. Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Về đúng nhà” Cách chơi: Mỗi trẻ cầm một hình (vuông hoặc tròn). Trẻ vừa đi vừa hát, khi nghe hiệu lệnh “Về đúng nhà” thì trẻ nào cầm trên tay hình gì thì tìm về đúng ngôi nhà có hình đó. Hay dạy trẻ so sánh cao - thấp. Tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi “Kết bạn”. Qua mỗi lần chơi, giáo viên cho trẻ cùng kiểm tra kết quả, thông qua việc kiểm tra đó, ta có thể biết được kết quả của giờ học.
- 14 Qua việc sử dụng trò chơi trong các hoạt động làm quen với toán, tiết học trở nên sôi nổi, trẻ được tham gia hoạt động một cách tích cực, tinh thần thoải mái, không bị mệt mỏi và căng thẳng. Giải pháp 3: Tổ chức ôn luyện cho trẻ ở mọi nơi, mọi lúc Làm quen với toán là một hoạt động cần độ chính xác và tăng dần theo độ khó, mà đặc điểm của trẻ Mầm non là lứa tuổi nhanh nhớ nhưng cũng rất chóng quên, chính vì vậy việc cho trẻ làm quen với toán ở mọi nơi, mọi lúc cũng là một vấn đề không thể thiếu đối với trẻ. Vì thế giáo viên cần tận dụng linh hoạt ở mọi thời điểm trong chế độ sinh hoạt một ngày để ôn luyện trẻ. Cô có thể giới thiệu cho trẻ được làm quen hoặc vận dụng những điều đã biết. Tùy từng hoàn cảnh cụ thể để hướng dẫn trẻ sử dụng đúng từ: To hơn - nhỏ hơn, cao hơn – thấp hơn, dài hơn - ngắn hơn, nhiều hơn – ít hơn. *Giờ đón trẻ: Để nhằm ôn kiến thức cho trẻ về tay phải, tay trái, phía trên, phía dưới. Tôi có thể bảo trẻ con đưa tay phải, hoặc tay trái cho cô dắt vào lớp, hoặc hỏi trẻ trên đầu con đội gì? Dưới chân con mặc gì? Đôi dép ở phía nào của con? Hoặc con vào lớp dùng tay phải chọn ảnh của con gắn vào phần trẻ đến lớp...Từ những cử chỉ quan tâm đến trẻ trong giờ đón trẻ như vậy, tôi cũng đã khắc sâu cho trẻ về tay phải, tay trái, *Giờ hoạt động ngoài trời: Muốn cho trẻ ôn số lượng 5, thì tôi có thể yêu cầu trẻ nhặt 5 chiếc lá và xếp cánh hoa, hoặc cho trẻ kết thành 5 bạn để cùng khám phá nội dung cô yêu cầu trong hoạt động ngoài trời... *Giờ chơi, hoạt động ở các góc: Trong hoạt động chơi ở các góc, tôi đến góc phân vai cho trẻ đếm số bạn trong góc chơi, gợi ý cho trẻ xếp đũa, thìa, cốc, ghế tương ứng với số người trong nhóm chơi. Đến góc chơi nghệ thuật: Tôi khuyến khích trẻ vẽ, tô màu bức tranh gia đình và hỏi trẻ về màu sắc, số lượng các thành viên trong tranh. Hay đến góc xây dựng: Tôi gợi ý nhóm xây dựng có 4 người, các con xây mỗi người
- 15 một phòng. Trẻ xây xong cho trẻ đếm số người, số phòng và so sánh. Từ đó trẻ khắc sâu kiến thức về số lượng, xếp tương ứng. *Giờ ăn: Trong khi trẻ ngồi vào bàn, khi trẻ chờ cô đưa cơm đến, tôi có thể nhẹ nhàng lồng ghép nội dung toán vào như: Tôi hỏi trẻ, cô đố lớp mình cái miệng bát có dạng hình gì? Cái mặt bàn các con ngồi là hình gì? Từ những chi tiết nhẹ nhàng, đơn giản nhưng có tác dụng rất lớn đối với trẻ *Hoạt động chiều: Tôi cho trẻ chơi các trò chơi như: Trò chơi “Chuyền bóng”, tôi cho 5 trẻ chơi một nhóm, trước khi chơi cho các nhóm đếm số bạn trong nhóm chơi có bao nhiêu bạn. Hoặc trò “Chồng nụ chồng hoa”. Hai bạn làm cho một bạn nhảy qua, cho trẻ đếm số bạn.... Một điều cần ghi nhớ và phải thực hiện nghiêm túc với những nội dung lồng ghép ở mọi nơi, mọi lúc nêu trên là phải lồng ghép đúng thời điểm, đúng chủ đề đang học phù hợp với nội dung đã học hoặc sắp học để ứng dụng phù hợp vào từng thời điểm. Giải pháp 4: Xây dựng môi trường học tập theo hướng mở Môi trường học tập phù hợp, đa dạng, phong phú là yếu tố rất quan trọng trong quá trình hoạt động trải nghiệm nhằm thỏa mãn nhu cầu cho trẻ. Tạo môi trường hoạt động cho trẻ đòi hỏi người giáo viên cần có kế hoạch giáo dục, làm đồ dùng đồ chơi, thiết kế các góc hoạt động theo chủ đề, biết tận dụng mọi khả năng có thể kết hợp để giáo dục trẻ. Để trẻ có thể học ở mọi lúc, mọi nơi tôi đã tận dụng những khoảng tường với vị trí phù hợp để tạo môi trường làm quen với toán theo hướng mở phù hợp từng chủ đề. Ví dụ: Ở chủ đề thực vật, tôi dạy đếm đến 3, tôi sẽ cắt những hình ảnh những bông hoa thành nhóm có số lượng 3 và gài lên góc “Hãy chọn cho đúng” đến giờ hoạt động góc, hoạt động chiều. Tôi ôn luyện kiến thức tách, gộp, củng cố kỹ năng đếm, so sánh. Qua đó sẽ giúp trẻ dễ khắc sâu và nhớ lâu bài học của mình.
- 16 Đổi mới cách trang trí, các đồ dùng, đồ chơi, hình ảnh trang trí không dán cố định mà được bố trí trẻ có thể dễ dàng lấy sử dụng theo ý thích, trí tưởng tượng của trẻ. Ví dụ: Chủ đề động vật: Tôi trang trí một mảng tường với chủ đề những con vật bé yêu. Phần dưới tạo những chiếc túi đựng các con vật và chữ số. Phần trên là nơi để khi chơi trẻ sử dụng con vật rời ở các túi xếp thành những nhóm con vật theo số lượng với ý thích của trẻ... Hay ở chủ đề gia đình. Tôi chuẩn bị nhiều hình ảnh rời về các thành viên trong gia đình, một số đồ dùng trong gia đình...trẻ sử dụng những hình ảnh này để xếp. Sau đó trẻ sẽ đếm về số lượng, so sánh về kích thước (To - nhỏ, cao - thấp). Từ đó, trẻ rất dễ dàng ghi nhớ và khắc sâu hơn về nội dung đã học. Ngoài ra, còn sử dụng các nguyên vật liệu khác để trẻ tạo hình trang trí lớp như que, hột hạt. Sưu tầm các hình ảnh cho trẻ dán làm album về các biểu tượng toán và các đồ dùng đồ chơi cho lớp, sử dụng các sản phẩm mà trẻ làm được cùng cô trang trí môi trường lớp học. Giải pháp 5: Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động Phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin trong giáo dục Mầm non tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ. Bởi nội dung, tư liệu bài giảng giới thiệu cho trẻ mang tính chân thực, phong phú. Ví dụ: Khi dạy bài “Đếm đếm 3” Thường thì trẻ được xem vật mẫu bằng các thủ thuật của cô đưa ra, nhưng hầu hết các môn học khác đều có thủ thuật như vậy nên đôi lúc cũng làm cho trẻ nhàm chán và ít chú ý. Nhưng khi tôi sử dụng thủ thuật trong bài soạn trên màn hình powe poin chỉ nhấp chuột những hình ảnh con vật ngộ nghĩnh hay những bông hoa đủ màu sắc hiện ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút được sự chú ý của trẻ. Nhưng với giải pháp này, tôi không quá lạm dụng mà phải tùy vào từng bài dạy tôi nghiên cứu vận dụng đưa công nghệ thông tin một cách linh hoạt thông qua các trò chơi nhằm đảm bảo nội dung kiến thức. Ưng dụng các phần mềm để thiết lập các trò chơi sáng tạo: Nén âm thanh vào biểu tượng như bài hát, nhạc,
- 17 lời khen, tiếng động, câu hỏi...về một yêu cầu nào đó trong trò chơi nhằm thu hút trẻ vào hoạt động. Sự xuất hiện của các biểu tượng tùy chọn không mang tính áp đặt trẻ làm thỏa mãn nhu cầu khám phá của trẻ kích thích trẻ hoạt động tích cực, hứng thú. Ví dụ: Trò chơi “Xếp hình”. Trên màn hình có rất nhiều hình vẽ, trẻ sẽ sử dụng các hình đó ghép thành các kiểu nhà, phương tiện giao thông mà trẻ thích.(Tùy theo chủ đề mà cô yêu cầu trẻ ghép) Giải pháp 6: Công tác phối kết hợp với phụ huynh Như chúng ta đã biết, giáo dục trẻ có thông tin hai chiều là rất có lợi, giúp gia đình và nhà trường có chung quan điểm giáo dục. Thông qua những buổi họp phụ huynh, hay những giờ đón trả trẻ. Tôi tranh thủ trao đổi về những nội dung học ở lớp để phụ huynh nắm rõ, nhờ phụ huynh ôn thêm cho trẻ khi ở nhà. Ở góc trao đổi, tuyên truyền phụ huynh, tôi dán kế hoạch chủ đề cho phụ huynh nắm bắt được con em mình đang học những gì, vận động phụ huynh tìm kiếm sưu tầm nguyên vật liệu phế thải tham gia tạo môi trường toán học cho trẻ hoạt động. Ví dụ: Tuần sau tôi dạy trẻ về hình chữ nhật, hình vuông. Thì tuần này tôi trao đổi với phụ huynh nếu gia đình nào có các hộp có dạng hình chữ nhật, hình vuông thì mang tới giúp cô, từ đó tôi có thêm một số đồ dùng dạy học. Không những vậy, tôi thường xuyên nhắc nhở phụ huynh đưa trẻ đi học chuyên cần, để trẻ được lĩnh hội kiến thức một cách có hệ thống. Ngoài ra, tôi tuyên truyền với các phụ huynh về tầm quan trọng của hoạt động làm quen với toán đối với sự phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, vì thế cần có sự phối kết hợp của các bậc phụ huynh để đạt kết quả tốt. III. KẾT LUẬN 1. Kết quả đạt được Qua một năm áp dụng một số biện pháp trên tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi (B), kết quả đạt được như sau: - Đối với trẻ: + Trẻ hứng thú, tham gia tích cực vào hoạt động.
- 18 + Kỹ năng nhận biết, kỹ năng chơi các trò chơi của trẻ thành thạo hơn. + Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn. + Trẻ nắm được kiến thức của hoạt động làm quen với toán. Cụ thể: Đầu năm Cuối năm Nội dung Số trẻ đạt Tỷ lệ Số trẻ đạt Tỷ lệ 1. Tập hợp, số lượng, số thứ tự 20/31 64,5% 31/31 100% và đếm 2. Xếp tương ứng 18/31 58,1% 31/31 100% 3. So sánh, sắp xếp theo quy tắc 18/31 58,1% 29/31 93,5% 4. Hình dạng 20/31 64,5% 31/31 100% 5.Định hướng trong không gian 15/31 48,4% 29/31 93,5% - Đối với giáo viên: Biết áp dụng một cách linh hoạt và phù hợp các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức tiết dạy để tạo thêm hứng thú cho trẻ nhằm giúp trẻ tiếp thu bài dạy một cách tốt nhất. Kết quả hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện xếp loại xuất sắc. 2. Bài học kinh nghiệm Để đạt được những kết quả trên, bản thân tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: - Giáo viên cần nghiên cứu kỹ đặc điểm tâm sinh lý cũng như khả năng nhận thức của trẻ ở lớp mình phụ trách để có biện pháp, phương pháp dạy phù hợp. - Chuẩn bị nhiều đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn. - Tạo được môi trường mở cho trẻ hoạt động. - Giáo viên cần phối hợp với phụ huynh để giúp cho trẻ học tốt hoạt động làm quen với toán. Trên đây là một số biện pháp giúp cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi học tốt hoạt động làm quen với toán của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy ở lớp mà tôi đã áp dụng trong thời gian qua. Từ những sáng kiến này, rất mong có được những ý kiến đóng góp chân thành của Ban Giám hiệu nhà trường, các bạn đồng nghiệp cùng tất cả các cấp lãnh đạo có liên quan giúp tôi hoàn thiện hơn.
- 19 Tôi xin chân thành cảm ơn! Hiệu trưởng Cam Lộ, ngày 29 tháng 6 năm 2020 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết không sao chép của người khác Người viết Nguyễn Thị Hoài MỤC LỤC Nội dung Trang I. PHẦN MỞ ĐẦU 1
- 20 1. Lí do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 1 3. Đối tượng nghiên cứu 2 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm 2 5. Phương pháp nghiên cứu 2 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 2 II.NỘI DUNG 2 1. Cơ sở lý luận 2 2. Cơ sở thực tiễn 2 3. Các giải pháp 3 III. KẾT LUẬN 9 1. Kết quả đạt được 9 2. Bài học kinh nghiệm 9 Muốn tổ chức tiết học có tính sáng tạo, phong phú và lôgic đồng thời trẻ tích cực hoạt động thì bản thân tôi phải tìm ra cách tích hợp các hoạt động khác sao cho hợp lý. Giao viên cần phải phối hợp khéo léo các phương pháp dạy học

