Một số nội dung cơ bản của bộ luật hình sự năm 2015 và nghị quyết về việc thi hành bộ luật hình sự
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số nội dung cơ bản của bộ luật hình sự năm 2015 và nghị quyết về việc thi hành bộ luật hình sự", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mot_so_noi_dung_co_ban_cua_bo_luat_hinh_su_nam_2015_va_nghi.doc
Nội dung tài liệu: Một số nội dung cơ bản của bộ luật hình sự năm 2015 và nghị quyết về việc thi hành bộ luật hình sự
- MỤC LỤC STT Trang 1 Một số nội dung cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 và 2 Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 về việc thi hành Bộ luật hình sự 2 Một số nội dung cơ bản của Luật trẻ em năm 2016 61 Đặng Hoa Nam, Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
- MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ NGHỊ QUYẾT SỐ 109/2015/QH13 NGÀY 27/11/2015 VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ Ngày 27 tháng 11 năm 2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua toàn văn dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi). Bộ luật đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. 1. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997). Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. BLHS một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao qua đó, góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế. 2
- Tuy nhiên, sau 14 năm thi hành, BLHS đã bộc lộ những bất cập, hạn chế chủ yếu như sau: - Mặc dù được ban hành sau thời điểm Đảng ta khởi xướng công cuộc đối mới nhưng BLHS 1999 là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển một cách lành mạnh. - Do ban hành từ năm 1999, nên BLHS chưa thể chế hoá được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời giantới; Nghị quyết số 48/NQ- TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. - Sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. - BLHS 1999 chưa cập nhật được đầy đủ, kịp thời các hành vi vi phạm có tính chất phổ biến, nguy hiểm cao cho xã hội: các hành vi lạm dụng lao động trẻ em; chiếm đoạt, mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người; vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ; lợi dụng bán hàng đa cấp để chiếm đoạt tiền, tài sản; các vi phạm trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, môi trường, công nghệ cao, v.v - BLHS 1999 chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS để nội luật hóa các quy định 3
- về hình sự trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm. - BLHS 1999 còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp liên quan đến sự thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm; các dấu hiệu định tội, định khung của nhiều tội danh; các tội ghép; cách thiết kế khung hình phạt cũng như khoảng cách khung hình phạt của một số tội danh... II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Mục tiêu: Xây dựng Bộ luật hình sự có tính minh bạch, tính khả thi và tính dự báo cao hơn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của BLHS với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới; góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, đấu tranh chống tham nhũng có hiệu quả, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân; đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. 2. Quan điểm chỉ đạo: - Thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là chủ trương: "Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hoá quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế". - Thể hiện đúng tinh thần và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đấu tranh chống tham 4
- nhũng đồng thời bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh. - Việc xây dựng Bộ luật phải được tiến hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLHS; kế thừa, phát triển các quy định còn phù hợp của BLHS hiện hành; bổ sung những quy định mới để giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự nhằm bảo đảm tính thống nhất nội tại của BLHS và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; nâng cao tính minh bạch, khả thi và tính dự báo của BLHS. - Đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của các nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là đối với những quy định mới. - Tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm; nội luật hóa các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. III. ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN XÂY DỰNG BỘ LUẬT HÌNH SỰ Xuất phát từ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo nêu trên, BLHS năm 2015 được xây dựng dựa trên 05 định hướng cơ bản sau dây: Thứ nhất, thể chế hóa về mặt hình sự chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng này nhằm khắc phục cơ bản những bất cập, hạn chế của BLHS năm 1999 đã và đang gây trở ngại cho sự phát triển của nền kinh tế và nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý bảo đảm cho cơ chế kinh tế thị trường vận hành theo đúng các quy luật của nó và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, góp phần làm an tâm cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế. Thứ hai, hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng 5
- và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Đây là định hướng thể hiện rõ tính nhân đạo của chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý người phạm tội. Thứ ba, đổi mới nhận thức về chính sách hình sự mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Thứ tư, nội luật hóa những qui định có liên quan của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các điều ước quốc tế liên quan đến phòng, chống tội phạm. Định hướng này tạo điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, nhất là các điều ước quốc tế có liên quan đến phòng, chống tội phạm, như: Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Công ước chống tham nhũng; Nghị định thư về phòng ngừa, trừng trị, trấn áp tội buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác; Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979; Công ước Luật biển năm 1982; các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), đồng thời, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Thứ năm, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự theo hướng nâng cao tính minh bạch, khả thi và tính dự báo trong các quy định của BLHS; bảo đảm tính thống nhất nội tại của BLHS và tính thống nhất của BLHS với các Luật khác. Đây là một định hướng mang tính chuyên môn kỹ thuật nhằm tạo ra một diện mạo mới về kỹ thuật lập pháp của BLHS trên cơ sở khắc phục những bất cập, kế thừa những điểm tiến bộ về kỹ thuật của BLHS năm 1999, làm cho BLHS mới có tính lôgic, nhất quán, minh bạch và mang tính dự báo cao. 6
- IV. BỐ CỤC VÀ PHẠM VI SỬA ĐỔI BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Bố cục Bộ luật hình sự năm 2015 gồm 26 chương, 426 điều (tăng 02 chương và 72 điều so với BLHS năm 1999), trong đó giữ nguyên 17 điều; bãi bỏ 08 điều; bổ sung mới 49 điều và sửa đổi, bổ sung 362 điều (trong đó có 65 điều chỉnh sửa về kỹ thuật; 58 điều được tách ra từ 24 điều của BLHS năm 1999). Như vậy có thể thấy, hầu hết các điều khoản của BLHS năm 1999 đều đã được sửa đổi, bổ sung. BLHS năm 2015 được thiết kế thành 03 Phần,Cụ thể như sau: - Phần thứ nhất: Những quy định chung, gồm 08 chương, 142 điều (từ Điều 1 đến Điều 142), cụ thể như sau: + Chương I. Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS: gồm 06 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS; phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội ; + Chương II. Những nguyên tắc cơ bản: gồm 27 điều (từ Điều 7 đến Điều 33) quy định những nguyên tắc áp dụng trong tố tụng hình sự như suy đoán vô tội; bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật ; + Chương III. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: gồm 21 điều (từ Điều 34 đến Điều 54) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra + Chương IV. Người tham gia tố tụng: gồm 17 điều (từ Điều 55 đến Điều 71) quy định quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng; trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng + Chương V. Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: gồm 13 điều (từ Điều 72 đến Điều 84) quy định về người bào chữa; thủ tục đăng ký bào chữa; thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa 7
- + Chương VI. Chứng minh và chứng cứ: gồm 24 điều (từ Điều 85 đến Điều 108) quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự; chứng cứ; nguồn chứng cứ + Chương VII. Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: gồm 02 mục, 22 điều (từ Điều 109 đến Điều 130). Mục I. Biện pháp ngăn chặn (từ Điều 109 đến Điều 125) quy định về các biện pháp ngăn chặn; giữ người trong trường hợp khẩn cấp; những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt Mục II. Biện pháp cưỡng chế (từ Điều 126 đến Điều 130)quy định về các biện pháp cưỡng chế; hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản + Chương VIII. Hồ sơ vụ án, văn bản tố tụng, thời hạn và chi phí tố tụng: gồm 12 điều (từ Điều 131 đến Điều 142) quy định hồ sơ vụ án; văn bản tố tụng; chi phí tố tụng - Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự, gồm 09 chương, 93 điều (từ Điều 143 đến Điều 235), cụ thể như sau: + Chương IX. Khởi tố vụ án hình sự: gồm 20 điều (từ Điều 143 đến Điều 162) quy định căn cứ khởi tố vụ án hình sự; tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm + Chương X. Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự: gồm 16 điều (từ Điều 163 đến Điều 178) quy định về thẩm quyền điều tra; nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong một số hoạt động điều tra; thời hạn điều tra + Chương XI. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can: gồm 06 điều (từ Điều 179 đến Điều 184) quy định về khởi tố bị can; thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; triệu tập, hỏi cung bị can + Chương XII. Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng: gồm 07 điều (từ Điều 185 đến Điều 191) quy định về triệu tập, lấy lời khai người làm chứng; đối chất; nhận dạng; nhận biết giọng nói 8
- + Chương XIII. Khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: gồm 09 điều (từ Điều 192 đến Điều 200) quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét; khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện + Chương XIV. Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra: gồm 04 điều (từ Điều 201 đến Điều 204) quy định về khám nghiệm hiện trường, tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra. + Chương XV. Giám định và định giá tài sản: gồm 18 điều (từ Điều 205 đến Điều 222) quy định về trưng cầu giám định; yêu cầu giám định; thời hạn giám định; tiến hành giám định; định giá tài sản + Chương XVI. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt: gồm 06 điều (từ Điều 223 đến Điều 228) quy định về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; trường hợp áp dụng các biện pháp này; thẩm quyền áp dụng; thời hạn áp dụng + Chương XVII. Tạm đình chỉ điều tra và kết thúc điều tra: gồm 07 điều (từ Điều 229 đến Điều 235) quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ, kết thúc điều tra; truy nã bị can - Phần thứ ba: Truy tố, gồm 02 chương, 14 điều (từ Điều 236 đến Điều 249), cụ thể như sau: + Chương XVIII. Những quy định chung: gồm 07 điều (từ Điều 236 đến Điều 242) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố, kiểm sát trong giai đoạn truy tố; thẩm quyền truy tố + Chương XIX. Quyết định việc truy tố bị can: gồm 07 điều (từ Điều 243 đến Điều 249) quy định về quyết định truy tố bị can; trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án - Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự, gồm 03 chương, 113 điều (từ Điều 250 đến Điều 362), cụ thể như sau: + Chương XX. Những quy định chung: gồm 18 điều (từ Điều 250 đến Điều 267) quy định về xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục; tạm ngừng phiên tòa; thành phần Hội đồng xét xử; nội quy, biên bản phiên tòa; bản án 9
- + Chương XXI. Xét xử sơ thẩm: gồm 06 mục, 62 điều (từ Điều 268 đến Điều 329). Mục 1. Thẩm quyền của tòa án các cấp (từ Điều 268 đến Điều 275) quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án; giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử Mục II. Chuẩn bị xét xử (từ Điều 276 đến Điều 287) quy định về nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ, đình chỉ, phục hồi vụ án; triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa Mục III. Quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa (từ Điều 288 đến Điều 299) quy định về sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa ; hoãn phiên tòa; giới hạn của việc xét xử; việc ra bản án, quyết định của Tòa án. Mục IV. Thủ tục bắt đầu phiên tòa (từ Điều 300 đến Điều 305) quy định về chuẩn bị khai mạc phiên tòa; khai mạc phiên tòa; giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa; việc thay đổi người tiến hành tố tụng Mục V. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (từ Điều 306 đến Điều 325) quy định về công bố bản cáo trạng; trình tự xét hỏi; hỏi bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng Mục VI. Nghị án và tuyên án (từ Điều 326 đến Điều 329) quy định về nghị án; tuyên án; trả tự do cho bị cáo và bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án. + Chương XXII. Xét xử phúc thẩm: gồm 02 mục, 33 điều (từ Điều 330 đến Điều 362). Mục 1. Tính chất của xét xử phúc thẩm và quyền kháng cáo, kháng nghị (từ Điều 330 đến Điều 343) quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm; người có quyền kháng cáo; thủ tục, thời hạn kháng cáo; thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo; kháng cáo quá hạn; kháng nghị của Viện kiểm sát; thời hạn kháng nghị Mục II. Thủ tục xét xử phúc thẩm (từ Điều 344 đến Điều 362) quy định về tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm; thủ tục phiên tòa phúc thẩm - Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án, gồm 02 chương, 07 điều (từ Điều 363 đến Điều 369), cụ thể như sau: + Chương XXIII. Bản án, quyết định được thi hành ngay và thẩm quyền ra quyết định thi hành án: gồm 04 điều (từ Điều 363 đến Điều 366) quy định về bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; thẩm quyền và thủ tục ra 10
- quyết định thi hành án; giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án; và giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án. + Chương XXIV. Một số thủ tục về thi hành án tử hình, xét tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích: gồm 03 điều (từ Điều 367 đến Điều 369) quy định về thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành; thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; và thủ tục xóa án tích. - Phần thứ sáu: Xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm 03 chương, 43 điều (từ Điều 370 đến Điều 412), cụ thể như sau: + Chương XXV. Thủ tục giám đốc thẩm: gồm 27 điều (từ Điều 370 đến Điều 396) quy định về tính chất của giám đốc thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền, phạm vi giám đốc thẩm; quyết định giám đốc thẩm + Chương XXVI. Thủ tục tái thẩm: gồm 07 điều (từ Điều 397 đến Điều 403) quy định về tính chất của tái thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm; các thủ tục khác về tái thẩm + Chương XXVII. Thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao: gồm 09 điều (từ Điều 404 đến Điều 412) quy định về yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị; thủ tục mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị; thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật - Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt, gồm 07 chương, 78 điều (từ Điều 413 đến Điều 490), cụ thể như sau: + Chương XXVIII. Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi: gồm 18 điều (từ Điều 413 đến Điều 430) quy định về phạm vi áp dụng; nguyên tắc tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng; xác định tuổi của người bị buộc tội, người 11
- bị hại là người dưới 18 tuổi; việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức; bào chữa; xét xử; xóa án tích; trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp giao dục tại trường giáo dưỡng + Chương XXIX. Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân: gồm 16 điều (từ Điều 431 đến Điều 446) quy định phạm vi áp dụng; quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; thẩm quyền và thủ tục xét xử, thi hành án đối với pháp nhân + Chương XXX. Thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh: gồm 08 điều (từ Điều 447 đến Điều 454) quy định về điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra; quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố; quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử; đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh + Chương XXXI. Thủ tục rút gọn: gồm 11 điều (từ Điều 455 đến Điều 465) quy định về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn; điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn; điều tra, phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục rút gọn + Chương XXXII. Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự: gồm 03 điều (từ Điều 466 đến Điều 468) quy định về xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa; và hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt. + Chương XXXIII. Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự: gồm 15 điều (từ Điều 469 đến Điều 483) quy định về người có quyền khiếu nại; thời hiệu khiếu nại; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo; người có quyền tố cáo + Chương XXXIV. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác: gồm 07 điều (từ Điều 484 đến Điều 490) quy định về người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ 12
- - Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế, gồm 02 chương, 18 điều (từ Điều 491 đến Điều 508), cụ thể như sau: + Chương XXXV. Những quy định chung: gồm 06 điều (từ Điều 491 đến Điều 496) quy định phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự; nguyên tắc hợp tác quốc tế; cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự + Chương XXXVI. Một số hoạt động hợp tác quốc tế: gồm 12 điều (từ Điều 497 đến Điều 508) quy định việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam; điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ; các biện pháp ngăn chặn, căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn; xử lý tài sản do phạm tội mà có - Phần thứ chín: Điều khoản thi hành, gồm 02 điều (Điều 509 và Điều 510) quy định hiệu lực thi hành và quy định chi tiết. 2. Phạm vi sửa đổi: Với các nội dung sửa đổi như trên, Bộ luật hình sự năm 2015 được xác định là sửa đổi cơ bản và toàn diện, theo đó, trong tổng số 426 điều, có 72 điều mới được bổ sung, 362 điều được sửa đổi, bổ sung, 17 điều giữ nguyên, và 07 điều bãi bỏ. V. NHỮNG NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN TRONG PHẦN “NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG” CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ Trên cơ sở 05 quan điểm chỉ đạo và 05 định hướng xây dựng BLHS nêu trên, BLHS năm 2015 có nhiều nội dung đổi mới, bao quát cả phần những quy định chung lẫn phần các tội phạm cụ thể, trong đó có những nội dung mang tính đột phá trên tinh thần đổi mới nhận thức về chính sách hình sự, về vấn đề tội phạm và hình phạt. Dưới đây là những nội dung mới cơ bản trong Phần quy định chung của BLHS năm 2015: 1. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta, chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã được bổ sung vào BLHS BLHS năm 2015 đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và được thể hiện tập trung tại Chương XI của BLHS, gồm 16 điều (từ điều 74 - 13
- 89) và trong một số điều khoản của thể khác của Bộ luật (các điều 2, 3, 8, 33, 46). Đây là điểm đổi mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Phải nói rằng, việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào BLHS xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và là kết quả của gần 16 năm (từ 1999 đến nay) kiên trì, bền bỉ nghiên cứu, đề xuất của Chính phủ và đã được Quốc hội chấp thuận nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là vấn đề mới, hết sức phức tạp, do vậy, để bảo đảm sự thận trọng trong việc quy định chính sách mới, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước, BLHS đã xác định rõ giới hạn áp dụng chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo hướng hẹp cả về chủ thể lẫn về loại tội mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể: (1) về chủ thể, Điều 2 của BLHS quy định chế định này chỉ áp dụng đối với pháp nhân thương mại; (2) về loại tội, Bộ luật (Điều 76) quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 31/314 tội danh được liệt kê cụ thể tại Điều 76 của BLHS (chiếm tỷ lệ 9,87%)1, trong đó 22 tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội phạm về môi trường. Các tội danh này đều thuộc nhóm tội phạm về kinh tế và nhóm tội phạm về môi trường. Đồng thời, Bộ luật (Điều 75) cũng quy 1 Theo Điều 76 của BLHS thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội phạm sau đây: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại). 14
- định rõ 04 điều kiện để một pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, bao gồm: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Hệ thống chế tài áp dụng đối với pháp nhân phạm tội được quy định tại Điều 33 và Điều 46 của BLHS bao gồm 03 hình phạt chính (phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn), 03 hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính) và 04 biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra). 2. Bộ luật đã thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù theo hướng: - Phạt tiền là hình phạt chính không chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng như quy định của BLHS năm 1999 mà cả trường hợp phạm các tội nghiêm trọng. Riêng đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường thì phạt tiền là hình phạt chính có thể áp dụng đối với tội rất nghiêm trọng (Điều 35). - Bộ luật cũng đã mở rộng nội hàm của hình phạt cải tạo không giam giữ, theo đó, trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ với thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Biện pháp này không áp dụng đối với người già yếu, phụ nữ có thai (Điều 36). - Đối với hình phạt tù, Bộ luật khẳng định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý (khoản 2 Điều 37). 15
- 3. BLHS năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số 49/NQ-TW và bám sát tinh thần nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sống của con người, theo đó: - Điều 40 của BLHS đã xác định rõ tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định. - Bộ luật đã bổ sung thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình, theo đó, hình phạt tử hình không áp dụng đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không thi hành án tử hình đối với họ. Quy định này nhằm góp phần hạn chế tử hình trên thực tế, đồng thời góp phần thu hồi tài sản tham nhũng. - BLHS năm 2015 đã bỏ tử hình ở 07 tội danh sau: (1) cướp tài sản; (2) sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; (3) tàng trữ trái phép chất ma túy; (4) chiếm đoạt chất ma túy2; (5) phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; (6) chống mệnh lệnh; (7) đầu hàng địch. Riêng đối với tội danh hoạt động phỉ thì BLHS năm 1999 có quy định tội này với mức hình phạt cao nhất là tử hình nhưng BLHS năm 2015 không còn tiếp tục quy định tội phạm này nữa. Như vậy, BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18/314 tội danh được quy định trong Bộ luật (chiếm tỷ lệ 5,73%) thuộc 07/14 nhóm tội phạm 3, giảm 11 tội danh (trên 05%) so với BLHS 2 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm đoạt chất ma túy được tách ra từ tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định tại Điều 194 của BLHS năm 1999. 3 - 06 tội xâm phạm ANQG: phản bội Tổ quốc; hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; gián điệp; bạo loạn; khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. - 02 tội xâm phạm TMSK: giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi. - 01 tội về kinh tế: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh. - 03 tội phạm về ma túy: sản xuất trái phép chất ma tuý; vận chuyển trái phép chất ma tuý; mua bán trái phép chất ma tuý. - 01 tội xâm phạm ATCC: khủng bố. 16
- năm 1999 và giảm 04 tội danh (trên 02%) so với BLHS (sửa đổi năm 2009)4. 4. BLHS năm 2015 có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, đặc biệt là đối với các em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, cụ thể là: Thứ nhất, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, Bộ luật đã thu hẹp đáng kể phạm vi trách nhiệm hình sự của đối tượng này, theo đó, các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện 29/314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm tỷ lệ 9,23%) thuộc 04 nhóm tội phạm: (1) các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; (2) các tội xâm phạm sở hữu; (3) các tội phạm về ma túy; (4) các tội xâm phạm an toàn công cộng5. Ngoài ra, các em cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 04/314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm tỷ lệ 1,27%). Đó là các tội: giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; cướp tài sản và bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, có thể thấy, trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nghiêm trọng và tính phổ biến của - 02 tội phạm tham nhũng: tham ô tài sản; nhận hối lộ. - 03 tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh: phá hoại hoà bình gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh. 4 BLHS 1999 có 29/263 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 11% thuộc 09/14 nhóm tội phạm; BLHS 1999 (sửa đổi năm 2009) có 22/272 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 8% thuộc 09/14 nhóm tội phạm. 5 Khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: - Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); - Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); - Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); - Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); - Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); - Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự). 17
- hành vi phạm tội do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi gây ra trong thời gian qua cũng như dự báo trong thời gian tới, BLHS năm 2015 đã xác định nhóm các tội danh mà các em trong độ tuổi này phải chịu trách nhiệm hình sự (kể cả trường hợp chuẩn bị phạm tội) chủ yếu tập trung vào các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người và an toàn công cộng. Thứ hai, BLHS năm 2015 cũng đã cụ thể hóa các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng cho từng đối tượng người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), đồng thời, bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự. Đó là: (1) khiển trách; (2) hòa giải tại cộng đồng; (3) biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bộ luật cũng quy định rõ điều kiện áp dụng từng biện pháp cụ thể nêu trên. 5. BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội theo hướng: Thứ nhất, bên cạnh các hành vi chuẩn bị phạm tội đã được quy định trước đây (như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm), còn bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể (Điều 14). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, đồng thời phù hợp với tinh thần của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Thứ hai, thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội so với BLHS năm 1999, theo đó, người có hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 24/314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm tỷ lệ 7,64%) thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng)6. 6 Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 của BLHS thì người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 24 tội thuộc 04 nhóm tội phạm: - 14 tội xâm phạm ANQG: Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước cộng 18
- 6. BLHS năm 2015 đã dành một chương riêng quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Ngay sau chương III quy định các vấn đề về tội phạm, BLHS năm 2015 đã bổ sung Chương IV gồm 07 điều quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, trong đó, tiếp tục kế thừa 04 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự như BLHS năm 1999 (sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự), đồng thời, bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là: (1) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp; (2) rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (3) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các điều 24, 25, 26) 7 nhằm tạo hành lanh pháp lý an toàn để khuyến khích người dân an tâm, tích cực tham gia phòng chống tội phạm; tham gia các hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung. 7. BLHS năm 2015 đã kế thừa và phát triển những quy định nhằm hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 115 (tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội); Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá trại giam); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); - 02 tội xâm phạm TMSK: Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); - 02 tội xâm phạm sở hữu: Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); - 06 tội xâm phạm an toàn công cộng: Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).. 7 Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội 1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm. 2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 25. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm. Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 26. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này. 19
- bảo vệ lợi ích chính đáng của các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, theo đó, Bộ luật quy định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng phạm tội là: (1) người đủ 70 tuổi trở lên; (2) phụ nữ có thai; (3) người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; (4) người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; (5) cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng (Điều 51). Đồng thời, Bộ luật cũng có chính sách tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với trường hợp phạm tội xâm hại đến những đối tượng như: (1) người ở trong tình trạng không thể tự vệ được; (2) người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; (3) người bị hạn chế khả năng nhận thức; (4) người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác; (5) người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên (Điều 52). 8. BLHS năm 2015 đã bổ sung chế định tha tù trước hạn có điều kiện với những quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường có sự giám sát của chính quyền địa phương và xã hội. Nếu trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước hạn cố ý vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì phải trở lại cơ sở giam giữ để chấp hành tiếp phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trong môi trường xã hội. 9. BLHS năm 2015 đã sửa đổi cơ bản chế định xóa án tích đối với người bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, ổn định để làm ăn, sinh sống. Điều này thể hiện ở 04 điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, khoản 2 Điều 69 và Điều 107 của BLHS năm 2015 quy định rõ 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. Đó là: (1) người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì; (2) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; (3) người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; (4) người đã thành niên bị kết 20

